|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HSST Ngày: 30-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Thơm
2. Ông Cao Xuân Quan
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN HIẾU; Sinh ngày: 14/02/2004, tại: Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Nguyễn H; sinh năm: 1976 và bà Tạ Thị Kim T; sinh năm: 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24/9/2023, bị Công an thị xã L xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0035809; Nhân thân: Ngày 28/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 19/2019/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 01/9/2021;
Bị cáo Nguyễn H1 hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 48/2024/HSST-LCCT ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. NGUYỄN QUỐC QUY; Sinh ngày: 01/02/2006, tại: Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12. Con ông: Nguyễn H2; sinh năm: 1984 và bà: Lê Thị H3; sinh năm: 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Quốc Q hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 49/2024/HSST-LCCT ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Khu phố D, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Bùi Trọng N, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: 5 N, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
Tạm trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, bị cáo Nguyễn H1 đi bộ tại khu phố D, phường B, thị xã L thì phát hiện trước nhà chị Nguyễn Thị Hồng V có để 01 xe đạp điện màu xanh của chị V trên xe có cắm sẵn chìa khóa, nhưng không có ai trông coi, nên H1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định này, H1 đi đến mở khóa xe đạp điện rồi điều khiển xe về nhà cất giấu. Sau đó, H1 điều khiển xe đạp điện đến nhà anh Bùi Trọng N, tại khu phố D, phường P, thị xã L và bán xe trên cho anh N với giá 1.700.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân, anh N không biết đây là tài sản do H1 trộm cắp nên đồng ý mua. Sau khi mua xe, thấy xe đã cũ, bị trầy xước nên anh N sơn mới lại màu đen để cho con đi học. Sau khi phát hiện bị mất xe, chị Nguyễn Thị Hồng V đến Công an phường B trình báo sự việc. Qua xác minh nhanh, Công an phường B mời H1 về trụ sở làm việc, tại đây H1 thừa nhận hành vi trộm cắp xe đạp điện của chị V vào ngày 12/3/2024. Sau đó, Công an tiến hành thu giữ từ anh Bùi Trọng N 01 xe đạp điện màu đen là tang vật của vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-ĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe đạp điện, màu đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 3.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 10 giờ ngày 15/3/2024, các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đang chơi gần quán cà phê tại ụ ghe thuộc khu phố D, phường P, thị xã L. Lúc này, H1 phát hiện xe môtô BKS: 86K6 - 0943 của anh Nguyễn Văn P đang dựng trước quán, xung quanh không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và rủ Q tham gia, thì Q đồng ý. Thực hiện ý định này, H1 nói Q đi đến lấy trộm xe môtô, còn H1 đứng ngoài quan sát, cảnh giới. Khi Q đến nơi thì thấy trên xe có sẵn chìa khóa nên lén lút dắt trộm xe môtô trên đi ra ngoài. Khi Q dắt xe trên được khoảng 20m - 30m thì H1 đi đến nổ máy, điều khiển xe chở Q đi về hướng phường P. Khi H1 điều khiển xe chở Q lưu thông trên đường N thuộc phường P thì xe bị thủng bánh trước. Lúc này, Q dắt xe, còn H1 đi theo phía sau. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, anh P phát hiện xe mô tô BKS: 86K6 - 0943 bị mất nên đi xung quanh tìm kiếm. Khi anh P cùng bạn là Đỗ Công Q1 đi đến trước nhà thờ T1, thuộc phường P thì phát hiện Nguyễn Quốc Q và Nguyễn H1 đang dắt xe mô tô BKS: 86K6 - 0943. Thấy vậy, anh P đi đến chặn xe mô tô lại và giữ được Nguyễn Quốc Q, còn H1 thì bỏ chạy tẩu thoát. Sau đó, anh P dẫn Q cùng tang vật đến Công an phường P trình báo sự việc; Tại đây, Nguyễn Quốc Q thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô BKS: 86K6 - 0943 của bản thân cùng với Nguyễn Hiếu . Đến ngày 20/3/2024, Công an phường P tiến hành xác minh và mời Nguyễn H1 về trụ sở làm việc thì H1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-ĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe mô tô hiệu Zongshen (weva), màu xanh, số máy S152FMH00004798, số khung MPCH063FM001298, BKS: 86K6 - 0943, đăng ký lần đầu ngày 05/02/2004, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là: 2.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án, gồm: 01 xe đạp điện màu đen đã trả cho chị Nguyễn Thị Hồng V vào ngày 23/4/2024; 01 xe môtô BKS: 86K6 - 0943 đã trả cho anh Nguyễn Văn P vào ngày 04/6/2024.
Về dân sự: Sau khi nhận được tài sản, chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn P đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì về dân sự. Anh Bùi Trọng N không yêu cầu bị cáo Nguyễn H1 phải hoàn trả lại số tiền mà anh đã bỏ ra mua xe đạp điện từ H1.
Tại bản cáo trạng số: 96/CT-VKSLG-HS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q, đều về tội: “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đều phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phạt bị cáo Nguyễn H1, mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phạt bị cáo Nguyễn Quốc Q, mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
- Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đều không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q: Không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q tại phiên tòa đều phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” do các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q cố ý thực hiện, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, tại nhà của chị Nguyễn Thị Hồng V, thuộc khu phố D, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Nguyễn H1 đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe đạp điện, trị giá 3.500.000 đồng của chị V đem về nhà cất giấu. Sau đó, đem xe đến bán cho anh Bùi Trọng N với giá 1.700.000 đồng, lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 10 giờ ngày 15/3/2024, quán cà phê gần ụ ghe thuộc khu phố D, phường P, thị xã L; các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô biển số 86K6 - 0943, trị giá 2.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn P, trên đường tẩu thoát thì bị anh P phát hiện bắt giữ được bị cáo Q, còn bị cáo H1 chạy thoát. Đến ngày 20/3/2024, Công an phường P mời bị cáo H1 về trụ sở làm việc, thì H1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn H1 với vai trò là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Quốc Q cùng tham gia, đồng thời cùng với bị cáo Q trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nêu trên.
Tại phiên toà, mặc dù các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đều thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng nêu và Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan, nhưng cả hai bị cáo lại khai nại rằng mục đích lấy xe mô tô của anh P là mượn xe để đi mua đồ. Tuy nhiên, căn cứ kết quả xét hỏi công khai và tranh tụng tại phiên toà, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nại này của các bị cáo là không có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với tuổi đời còn rất trẻ, thế nhưng các bị cáo không chịu chăm chỉ lao động, tạo thu thập chính đáng để lo cho bản thân, giúp đỡ gia đình mà tham chơi, lười biếng, liêu lõng, nghiện ngập. Mặc dù các bị cáo đều nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng để có tiền tiêu xài, mua ma tuý sử dụng, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của các bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản của chị V, anh P1 như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tạo tâm lý lo lắng, mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Riêng bị cáo H1 còn có nhân thân rất xấu; Năm 2019, đã từng bị Toà án nhân dân thị xã La Gi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, với thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 19/2019/QĐ-TA ngày 28/10/2024), đến ngày 01/9/2021 thì bị cáo H1 chấp hành xong quyết định trở về địa phương. Năm 2023, bị Công an thị xã L xử phạt 2.500.000 đồng về hành “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 0035809/QĐ-XPHC ngày 24/9/2023). Do đó, để giữ gìn kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, cần xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
+ Đối với bị cáo Nguyễn H1: Xét, với 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên và cả 02 lần trộm cắp tài sản đều có giá trị trên 2.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo H1 thuộc trường hợp "Phạm tội 02 lần trở lên", đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
+ Đối với bị cáo Nguyễn Quốc Q: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho các bị hại; Riêng bị cáo Quy phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và căn cứ đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt thể hiện chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn P đã nhận lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Bùi Trọng N, quá trình điều tra và căn cứ đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt thể hiện anh N không yêu cầu bị cáo H1 phải hoàn trả số tiền 1.700.000 đồng mà anh đã bỏ ra mua xe đạp điện từ bị cáo H1. Xét, đây là sự tự nguyện của anh N, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q, đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Q 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
[2] Về án phí:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo Nguyễn H1 và Nguyễn Quốc Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Văn P; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Bùi Trọng N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |
Bản án số 89/2024/HSST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hiếu, Nguyễn Quốc Quy phạm tội Trộm cắp tài sản
