|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2023/HS-ST
Ngày: 28-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thạch Cương;
2. Ông Trần Hữu Thiện.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát Huyện D, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tuấn K - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trường THCS C2, ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Trung C, sinh năm 1999, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Thanh H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1962; chưa có vợ con;
Tiền sự: Ngày 13-01-2021, Công an xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo chưa chấp hành.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2021/HS-ST ngày 08-6-2021, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28-4-2023; đã nộp án phí ngày 22-11-2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-9-2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trung C là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 02-9-2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Chánh đón xe buýt đến khu vực ngã ba C thuộc thị xã T, tỉnh Tây Ninh, mua của người tên  không rõ lý lịch 02 bịch ma túy với số tiền 2.000.000 đồng cất giấu trong người, rồi đón xe buýt về nhà lấy ra một ít sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, C gọi điện thoại cho Huỳnh Tấn C1 để trao đổi việc mua bán xe môtô thì C1 nhờ Đinh Phương T điều khiển xe đi rước Chánh đến gặp C1. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe chở Chánh đến khu vực ấp T, xã T, huyện D, thì bị Công an huyện D kiểm tra bắt quả tang thu giữ trong người của Chánh 02 bịch nylon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng được niêm phong (Ký hiệu M).
Quá trình điều tra, C đã thừa nhận hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số: 1398 ngày 06-9-2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon màu trắng được niêm phong (Ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 2,4796 gam.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1398 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Phan Quốc V và mộc dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh T.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện Chánh không có sở hữu tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Trung C, Công an huyện D đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người tên  không rõ lý lịch bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với Huỳnh Tấn C1 và Đinh Phương T không biết C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý
Tại Cáo trạng số: 79/CT-VKSDMC ngày 13-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Trung Chánh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Trung C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Trung C từ 03 năm – 3 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1398 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Phan Quốc V và mộc dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong có chứa chất ma tuý; Loại Methamphetamine, khối lượng còn lại 2,3593 gam.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không tranh luận
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện D; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào ngày 02-9-2023, tại ấp T, xã T, huyện D, Phạm Trung C đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 2,4796 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, thời gian địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định chất ma túy và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Trung C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Từ đó khẳng định Cáo trạng số: 79/CT-VKSDMC ngày 13-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Trung C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người, làm xói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo
là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma tuý để sử dụng nhằm thoả mãn cơn nghiện. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo, và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án và 01 tiền sự đều về hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma tuý.
[5] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về hành vi tang trữ, sử dụng chất ma tuý, đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1398 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Phan Quốc V và mộc dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong có chứa chất ma tuý; Loại Methamphetamine, khối lượng còn lại 2,3593 gam, là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Từ những nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Trung C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-9-2023.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1398 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định viên Phan Quốc V và mộc dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong có chứa chất ma tuý; Loại Methamphetamine, khối lượng còn lại 2,3593 gam.
Hiện nay, Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu đang quản lý vật chứng trên.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Trung C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tiếp theo ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Như Sơn |
Bản án số 89/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 89/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung C bị VKS truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
