|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-PT Ngày: 27-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh;
Ông Huỳnh Thanh Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 260/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1978, tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn X và bà Lê Thị T1; Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc B và có 02 người con, lớn sinh năm 2003 và nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Quốc H, sinh năm 1999, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm vườn; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Hoài T2 và bà Nguyễn Ngọc H1; Chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Bị hại: Phạm Văn T, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Số A, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị hại và bị đơn dân sự: Anh Lê Quốc T3, sinh năm 1998 (có mặt);
Địa chỉ: Số F, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyên đơn dân sự:
- Ông Lê Văn T4, sinh năm 1963; (có mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1965; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn T4: Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số C, đường C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982 (có mặt)
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh S2 - Phòng G;
Địa chỉ: Số A, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thiện S; Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: Số F K, Khóm C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Ngọc Â, sinh năm 2000; (vắng mặt)
- Ông Tiêu Hùng C, sinh năm 1965; (có mặt)
- Anh Phạm Thành L, sinh năm 1991; (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Chí H2, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1996; (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Anh Huỳnh Hoài T2, sinh năm 1980; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Ngọc H1 mua đồ gỗ tại Cửa hàng đồ gỗ Tân Bích II do Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc B là chủ cửa hàng, nhưng chưa trả đủ tiền. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/02/2022, anh Nguyễn Hữu Đ là nhân viên làm thuê cho cửa hàng của T đến nhà chị H1 đòi tiền mà chị H1 còn nợ cửa hàng của T dẫn đến cự cãi với gia đình chị H1 nhưng được anh Nguyễn Chí H2 (nhân viên làm chung với anh Đ) can ngăn và khuyên anh Đ đi về. Đồng thời, anh H2 điện thoại báo cho chị B biết và được chị B khuyên anh Đ đi về. Chị H1 cũng liên hệ với chị B để hỏi lý do vì sao cho người đến nhà đòi nợ vào ban đêm, chị B nói là không kêu người đến đòi tiền. Qua trao đổi, gia đình chị H1 yêu cầu vợ chồng T và chị B đến Công an xã L để giải quyết sự việc. Lúc này, Huỳnh Quốc H (con chị H1) đi chơi về đến nhà, nghe được chị H1 kể lại sự việc có người của Cửa hàng đồ gỗ Tân Bích II đến đòi tiền vào ban đêm và gia đình H đã hẹn vợ chồng T và chị B đến Công an xã L để giải quyết việc đòi tiền vào ban đêm nên H tự đi đến Công an xã L để giải quyết sự việc với Cửa hàng gỗ Tân Bích II. Tiếp đó, H vào nhà lấy cây dũ ba khúc để vào túi quần đang mặc và nhờ anh Lê Quốc T3 lái xe chở đến Công an xã L nói là đến đó có công việc chứ không nói để làm gì, anh T3 cũng không biết H đến đó để làm gì nên anh T3 đồng ý. Trên xe lúc này có anh Nguyễn Ngọc Â, anh  cũng không biết H kêu anh T3 chở đến xã để làm gì, anh T3 điều khiển xe ôtô biển số 66A-160.01, nhãn hiệu Toyota, mã kiểu xe Vios, màu nâu vàng chở H và anh  cùng đi đến Uỷ ban nhân dân (UBND) xã L B.
Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 16/02/2022, T điều khiển xe ôtô biển số 66A-087.61, nhãn hiệu Toyota, màu đen chở ông Tiêu Hùng C (hàng xóm của T) đến đậu xe trước cổng trụ sở UBND xã L (do ban đêm nên UBND xã đã đóng cổng) để giải quyết sự việc trên theo yêu cầu của gia đình chị H1. T và ông C xuống xe nói chuyện được khoảng 15 phút, thì anh T3 điều khiển xe xe ô tô biển số 66A-160.01 chạy đến cổng trụ sở UBND xã L, trên xe có anh T3 cùng H và anh Â.
Lúc này, H xuống xe, anh A còn ngồi trên xe, anh T3 lái xe quay đầu lại hướng về Ngã tư C và đậu sát lề bên phải, hai bánh xe bên phải đậu trong lề đường. H đi đến gặp ông C và hỏi “Ai là T”, ông C vừa trả lời vừa chỉ về phía T đang đứng sát hàng rào cổng UBND xã L B. H liền đi lại đứng đối diện nói chuyện với T, H và Tân cự cãi thách thức nhau. H đạp thẳng vào người T 01 cái làm T ngã sang phải về phía bồn trồng hoa kiểng và H lấy trong túi quần cây dũ 03 khúc đánh 01 cái từ trên xuống, Tân giơ tay trái lên đỡ nên trúng tay của T, H tiếp tục dùng cây dũ 03 khúc đánh nhiều cái trúng vào tay và người T, thấy H đánh T nên anh T3 vào can ngăn H ra. Tân khom người bỏ chạy vòng qua đầu xe ô tôc 07 chỗ của T, mở cửa xe bên phải phía trước lấy 01 con dao dài khoảng 50 cm. H tiếp tục đuổi theo đánh T, thấy T cầm dao nên H và anh T3 bỏ chạy về hướng Ngã tư C cách Tân khoảng 20 mét. Anh  thì chạy vào nhà dân gần đó để trốn.
Sau khi H và anh T3 đã bỏ chạy, T cầm con dao dài khoảng 50 cm chém vào gương chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 66A-160.01. Sau đó, T quay lại xe ô tô 07 chỗ của T điều khiển xe quay đầu, từ hướng cổng UBND xã L B ra hướng đường ĐT852 chạy đến đụng trực diện vào phía bên trái xe ôtô biển số 66A-160.01 đang đậu ở lề đường. Sau khi đụng lần thứ nhất, T điều khiển xe lùi lại rồi chạy đến tiếp tục đụng vào hông bên trái xe ô tô trên lần thứ hai thì T xuống xe, bỏ xe chắn ngang đường. Khi bước xuống xe T đi vào hướng UBND xã L B, vừa đi vừa nói: “Tao chơi với mày nè, hôm nay tao ra ngoải ...chơi với mày, .... Tao chơi với mày đó; Đâm bể xe nó luôn á; ...... giờ xe bỏ luôn, đốt cái xe luôn, hai chiếc luôn..... rồi cái xe em có đó em đâm cái xe nó để, để làm đầu dây mối nhợ lại mấy anh giải quyết đó, anh cho em năm lít xăng em đốt cái xe đấy luôn; .... cái xe tôi, ông tin tôi đổ 05 lít tôi đốt luôn, một tỷ tư đó,... cái thằng giám đốc ở đây mà bị thằng nhóc này nó chém; ... Tôi đốt cái xe tôi luôn anh T5, tôi đâm nó banh cái xe nó luôn á, ... em đủ tiền em chơi gia đình nó đó, dòng họ nó luôn chứ không phải gia đình nó...... ” và T nhờ người dân đưa đến Trạm Y tế xã L để cấp cứu. Quá trình T điều khiển xe đụng lần thứ hai vào xe ô tô biển số 66A-160.01 được anh Phạm Thành L dùng điện thoại di động quay lại. Sau đó, T được gia đình đưa đi khám và điều trị tại nhiều cơ sở y tế.
Ngày 17/02/2022, sau khi sự việc xảy ra, Công an xã L thu giữ trong xe ô tô biển số 66A-087.61 tại vị trí:
- Ghế tài xế: 01 con dao dài 49cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài 34,5cm rộng 02cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn. Cán dao bằng kim loại, tròn dài 14,5cm đường kính cán dao 2,1cm, giữa cán dao có ốp nhựa màu đen dài 04cm. Bao bên ngoài lưỡi dao có võ bằng kim loại dáng hình trụ, màu đen dài 43,4cm.
- Ghế phụ phía trước: 01 cây dù màu đỏ, dài 50cm, cán màu vàng dài 10 cm.
Ngày 17/02/2022, Cơ quan điều tra tạm giữ xe ô tô biển số 66A-087.61 và xe ô tô biển số 66A-160.01 để phục vụ công tác điều tra. Cùng ngày, Cơ quan điều tra thu giữ 01 đoạn video của anh Phạm Thành L ghi lại diễn biến Phạm Văn T điều khiển xe ô tô biển số 66A-087.61 chạy đến đụng vào phía bên trái xe ô tô biển số 66A-160.01 và sau đó xuống xe đi về hướng anh L đang quay video, được niêm phong ký hiệu A, có chữ ký của Điều tra viên Huỳnh Minh T6 và người chứng kiến Phạm Thành L.
Ngày 17/02/2022, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm cây dũ ba khúc do Huỳnh Quốc H dùng để gây thương tích cho Phạm Văn T được H ném bỏ trên đường tẩu thoát, kết quả không tìm được.
Ngày 24/02/2022, Phạm Văn T có đơn yêu cầu khởi tố hình sự về hành vi cố ý gây thương tích đối với chị Nguyễn Ngọc H1, Huỳnh Quốc H, anh Lê Quốc T3 và anh Nguyễn Ngọc Â.
Ngày 23/7/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho Huỳnh Quốc H nhận dạng hung khí tương tự mà H cầm trên tay khi gây thương tích cho Phạm Văn T, kết quả: H thừa nhận cây dũ 03 khúc bằng kim loại màu đen, có tổng chiều dài là 64cm, trong đó phần cán dài 24cm, đường kính 2,5cm, có ốp nhựa màu đen, trên bề mặt ốp nhựa có nhiều nốt sần dạng hình thoi, đầu cán cây dũ có nắp kim loại màu đen, mặt nắp bằng, cây dũ cân nặng 600 gam là cây dũ có đặc điểm giống với cây dũ mà H cầm trên tay khi gây thương tích cho T.
Ngày 15/8/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Lê Quốc T3 nhận dạng hung khí tương tự hung khí mà Huỳnh Quốc H đã gây thương tích cho Phạm Văn T, kết quả: Anh T3 thừa nhận cây dũ 03 khúc bằng kim loại màu đen, có tổng chiều dài là 64cm, trong đó phần cán dài 24cm, đường kính 2,5cm, có ốp nhựa màu đen, trên bề mặt ốp nhựa có nhiều nốt sần dạng hình thoi, đầu cán cây dũ có nắp kim loại màu đen, mặt nắp bằng, cây dũ cân nặng 600 gam, có đặc điểm giống với cây dũ mà H gây thương tích cho T.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 166/TgT ngày 05/5/2022 của Trung tâm P - Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận: Phạm Văn T bị đa chấn thương phần mềm không để lại dấu vết thương tích, không cho tỷ lệ phần trăm; Gãy đầu dưới xương trụ trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 08%. Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động trực tiếp.
Ngày 30/7/2022, Phạm Văn T có đơn yêu cầu giám định thương tích bổ sung đối với thương tích vẹo cột sống thắt lưng sang phải. T cho rằng thương tích trên do Huỳnh Quốc H gây ra.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 12/TgTBS ngày 06/9/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ, kết luận:
- Kết luận giám định số 166/TgT ngày 05/5/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ với tỷ lệ tổn thương 08% do bị gãy đầu dưới xương trụ trái.
- Giám định bổ sung: Vùng lưng hiện tại không ghi nhận dấu vết thương tích, không cho tỷ lệ phần trăm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định bổ sung là 00%, theo nguyên tắc cộng lùi.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn T là 08%. Trượt L2, L3, L4 ra sau/ thoái hóa cột sống thắt lưng là do bệnh lý.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS, ngày 23/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp, kết luận xe ô tô biển số 66A-160.01 bị hư hỏng: Cản trước bên trái bị rách trị giá 648.000 đồng; Đèn trước bên trái bị sứt mẻ trị giá 9.307.440 đồng; Ốp nhựa gương chiếu hậu bên trái gãy mất trị giá 967.320 đồng; Khung nhựa gương chiếu hậu bên trái bị nứt gãy trị giá 7.916.400 đồng; Cửa trước bên trái bị móp thụng, biến dạng và trầy xướt trị giá 11.526.840 đồng; Tay nắm cửa trước bên trái bị trầy xướt trị giá 108.000 đồng; Cửa sau bên trái bị móp thụng, biến dạng và trầy xướt toàn bộ trị giá 10.299.000 đồng; Ron cửa sau bên trái bị rách không liên tục trị giá 1.634.520 đồng; Cây trượt kính cửa sau bên trái bị cong, móp thụng trị giá 216.000 đồng; Kính cửa sau bên trái bị vỡ trị giá 3.322.080 đồng; Tay nắm cửa sau bên trái bị trầy xướt 108.000 đồng; Vè sau bên trái bị móp thụng (hông trái) trị giá 13.705.560 đồng; Lườn xe phía sau bên trái bị móp thụng trị giá 1.188.000 đồng; Cản sau bị sứt rời: bên phải bị móp thụng và trầy xướt, bên trái bị gãy và trầy xướt trị giá 5.716.440 đồng; Đèn hậu bên phải bị gãy rời, ốp nhựa bị vở trị giá 3.999.240 đồng; Đuôi vè sau bên phải bị móp thụng (hong sau phải) trị giá 972.000 đồng; Dây điện cảm biến sau bị đứt trị giá 1.186.920 đồng; Công tháo lắp, kiểm tra báo giá, hoàn thiện trị giá 8.424.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 81.254.760 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS, ngày 04/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe sau khi trừ giá trị phần hư hỏng của xe ô tô, biển số 66A-087.61, nhãn hiệu Toyota, màu đen, số máy 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, đã qua sử dụng có giá trị là 656.642.000 đồng.
Ngày 17/4/2022, Cơ quan điều tra chụp 10 ảnh chân dung đối tượng Phạm Văn T để phục vụ cho công tác điều tra, các ảnh trên được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Huỳnh Minh T6 và đối tượng Phạm Văn T.
Tại Kết luận giám định số 2664/KL-KTHS ngày 10/6/2022 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1 kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung trong tập tin video gửi đến giám định ký hiệu A. Hình ảnh người có hình dáng nam giới mặc áo thun màu xanh, quần jean ống dài màu xanh, bước xuống từ xe ô tô và đi lại gần chỗ người quay video trong tập tin video gửi đến giám định ký hiệu A với hình ảnh Phạm Văn T trong mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M10 là hình ảnh của cùng một người.
Tại Kết luận giám định số 2665/KL-KTHS ngày 10/6/2022 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1, về việc giám định giọng nói của người trong đoạn video được niêm phong ký hiệu A và giọng nói của người trong video ghi âm, ghi hình quá trình lấy lời khai Phạm Văn T được niêm phong ký hiệu B, kết luận: Không phát hiện thấy có dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video mẫu cần giám định. Tiếng nói của người nam (ký hiệu “Tân” trong “Bản dịch nội dung”) trong file video mẫu cần giám định và tiếng nói của Phạm Văn T trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Trích bản dịch nội dung: “Tao chơi với mày nè, hôm nay tao ra ngoải ...chơi với mày, .... Tao chơi với mày đó; Đâm bể xe nó luôn á; Anh thấy hông? Em ngồi đây nè, nó chém em nè, quýnh banh hết trơn nè. Chạy nó quýnh em, tấp em rớt xuống hố luôn nè, quýnh em banh hết trơn nè, giờ xe bỏ luôn, đốt cái xe luôn, hai chiếc luôn..... rồi cái xe em có đó em đâm cái xe nó để, để làm đầu dây mối nhợ lại mấy anh giải quyết đó, anh cho em 05 lít xăng em đốt cái xe đấy luôn; Thằng nào sửa, sửa giùm cái tay coi, cái xe tôi, ông tin tôi đổ 05 lít tôi đốt luôn, một tỷ tư đó,...cái thằng giám đốc ở đây mà bị thằng nhóc này nó chém; ...Tôi đốt cái xe tôi luôn anh T5, tôi đâm nó banh cái xe nó luôn á, hơi lớn anh T5...em đủ tiền em chơi gia đình nó đó, dòng họ nó luôn chứ không phải gia đình nó...”.
Ngày 11/11/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho Phạm Văn T đối chất với anh Lê Quốc T3, ông Tiêu Hùng C và anh Phạm Thành L để làm rõ hành vi T dùng hung khí chém vào kính chiếu hậu bên trái và điều khiển xe ô tô của Tân đụng vào xe ô tô biển số 66A-160.01 nhưng T không tham gia đối chất.
Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Lê Quốc T3 nhận dạng con dao có đặc điểm tương đồng với con dao mà Phạm Văn T dùng để chém vào kính chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 66A-160.01, kết quả: Anh T3 nhận dạng được con dao dài 49cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài 34,5cm rộng 02cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn. Cán dao bằng kim loại, tròn dài 14,5cm đường kính cán dao 2,1cm, giữa cán dao có ốp nhựa màu đen dài 04cm là con dao mà cơ quan điều tra đã thu giữ trên xe của T vào ngày 17/02/2022 là con dao có đặc điểm tương đồng con dao mà T dùng để chém vào kính chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 66A-160.01.
Phạm Văn T khai khi đến Công an xã L có mang theo một con dao trên xe nên ngày 15/11/2022 Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong thu giữ con dao trên xe của T ngày 17/02/2022 cho T xác định con dao có đặc điểm tương đồng với con dao Tân mang theo trên xe ô tô biển số 66A-087.61, kết quả: Tân xác định con dao dài 49cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài 34,5cm rộng 02cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn. Cán dao bằng kim loại, tròn dài 14,5cm đường kính cán dao 2,1cm, giữa cán dao có ốp nhựa màu đen dài 04cm. Bao bên ngoài lưỡi dao có võ bằng kim loại dáng hình trụ, màu đen dài 43,4 cm, là con dao có đặc điểm giống con dao T đem theo trên xe vào ngày 16/02/2022.
Quá trình điều tra xác định:
- Huỳnh Quốc H chỉ thừa nhận hành vi dùng tay và chân để đánh Phạm Văn T, không có sử dụng cây dũ ba khúc để đánh T gây thương tích. Tuy nhiên, căn cứ vào vời khai của người làm chứng là ông Tiêu Hùng C thấy H cầm hung khí màu đen dài khoảng 50cm đánh từ trên xuống nhiều cái liên tiếp vào người T, ông C thấy T giơ tay lên đỡ và người làm chứng anh Lê Quốc T3 xác định thấy H cầm cây dũ 03 khúc bằng kim loại màu đen, đánh nhiều cái vào người T, khi bị H đánh T có giơ tay lên đỡ. Đồng thời, căn cứ vào tờ tự khai và biên bản ghi lời khai ngày 17/02/2022 của H thừa nhận H dùng cây dũ 03 khúc đánh 02 cái trúng vào người T. Lời khai của ông C và anh T3, lời khai ban đầu của H phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, lời khai bị hại, biên bản đối chất và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những phân tích trên, kết luận điều tra và cáo trạng xác định có đủ căn cứ để xác định H đã có hành vi sử dụng cây dũ 03 khúc (hung khí nguy hiểm) đánh T gây thương tích.
- Phạm Văn T không thừa nhận hành vi dùng con dao để chém vào kính chiếu hậu bên trái và điều khiển xe ô tô của Tân đụng vào xe ô tô biển số 66A-160.01. T cho rằng việc T điều khiển xe đụng vào xe ô tô biển số 66A-160.01 là do tinh thần Tân hoảng hốt, mục đích điều khiển xe để đi về nhà chứ không phải cố ý đụng làm hư hỏng xe ô tô biển số 66A-160.01. Tuy nhiên, căn cứ vào vời khai của người làm chứng là ông Tiêu Hùng C và anh Lê Quốc T3 thấy T dùng con dao để chém vào kính chiếu hậu bên trái và cố tình điều khiển xe ô tô của Tân đụng 02 lần vào xe ô tô biển số 66A-160.01 của anh T3 đang đậu sát lề đường. Quá trình T điều khiển xe đụng vào xe ô tô của anh T3 lần thứ 02 và khi T xuống xe có những lời nói thể hiện việc T cố ý gây hư hỏng cho xe ô tô biển số 66A-160.01 đã được anh Phạm Thành L dùng điện thoại quay lại. Theo kết luận giám định giọng nói của T sau khi điều khiển xe đụng vào xe của anh T3 cho thấy T cố ý làm hư hỏng xe của anh T3. Đồng thời, T cũng khai nhận có điều khiển xe đụng 02 cái vào xe ô tô biển số 66A-160.01 nhưng T khai chỉ là vô tình đụng là không phù hợp. Lời khai của ông C, anh T3, anh L với lời khai của T phù hợp biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, lời khai bị hại, kết luận giám định giọng nói, biên bản khám phương tiện, biên bản lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những phân tích trên, kết luận điều tra và cáo trạng xác định có đủ căn cứ để xác định T đã có hành vi cố ý điều khiển xe ô tô của T để đụng vào xe ô tô biển số 66A-160.01 của anh T3 gây hư hỏng.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với hành vi cố ý gây thương tích:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Phạm Văn T và Huỳnh Quốc H thoả thuận bồi thường dân sự nhưng T không thống nhất gặp H để bồi thường. T yêu cầu H bồi thường các khoản gồm: Chi phí khám và điều trị số tiền 29.132.187 đồng; Thu nhập thực tế bị mất, giảm sút thời gian 90 ngày số tiền 270.000.000 đồng; Chi phí người chăm sóc trong quá trình điều trị thời gian 45 ngày số tiền 135.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần số tiền 67.050.000 đồng. Tổng các khoản chi phí yêu cầu H bồi thường là 501.182.187 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu trên, T đã cung cấp phiếu thu, biên lai thu tiền, hóa đơn thuốc trong quá trình điều trị, bảng tự kê doanh thu bán hàng tháng 01/2022. Đối với các yêu cầu bồi thường của T, H chỉ thống nhất bồi thường chi phí điều trị là 29.132.187 đồng, các khoản khác H thống nhất bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản:
- Xe ô tô biển số 66A-160.01 bị Phạm Văn T làm hư hỏng do anh Lê Quốc T3 trực tiếp quản lý, sử dụng theo Hợp đồng cho thuê xe ngày 15/02/2022 giữa anh T3 và ông Lê Văn T4, nên anh T3 yêu cầu T bồi thường chi phí sửa chữa số tiền 81.254.760 đồng. T đồng ý bồi thường chi phí sửa chữa số tiền 81.254.760 đồng cho anh T3, do T cho rằng T là người vô ý làm hư hỏng xe.
- Xe ô tô biển số 66A-160.01 do anh Lê Quốc T3 thuê của ông Lê Văn T4 đứng tên chủ sở hữu. Xe ô tô 66A-160.01 là tài sản chung của ông T4 và bà Nguyễn Ngọc N (vợ ông T4), ông T4 và bà N đã thế chấp xe ô tô trên cho Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh S2 - Phòng G do ông Phạm Thiện S là người đại diện theo pháp luật. Đối với hư hỏng của xe, bà N ủy quyền cho ông T4 đại diện bà N yêu cầu bồi thường, ông S yêu cầu đưa phương tiện đi sửa chữa để phục hồi hiện trạng như ban đầu nhằm đảm bảo cho ông T4 và bà N thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp với ngân hàng.
Ông T4 yêu cầu anh T3 và T cùng liên đới bồi thường chiếc xe mới trị giá 580.000.000 đồng, bồi thường chi phí thu nhập của việc cho thuê xe từ ngày xảy ra vụ việc là ngày 17/02/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/8/2023 là 18 tháng 07 ngày, số tiền mỗi ngày cho thu nhập từ việc cho thuê xe là 600.000 đồng/ngày, tổng số tiền là 328.200.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu trên, ông T4 đã cung cấp hợp đồng thuê xe giữa ông T4 và anh T3 ngày 15/02/2022, ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Đối với các yêu cầu của ông T4, anh T3 chỉ thống nhất bồi thường chi phí sửa chữa số tiền 81.254.760 đồng. Còn T không thống nhất các yêu cầu của ông T4.
Đối với xe ô tô biển số 66A-160.01 qua điều tra xác định là của ông Lê Văn T4 đứng tên chủ sở hữu, cơ quan điều tra trả lại xe cho ông T4 nhưng ông T4 không thống nhất nhận lại xe trên.
Quá trình điều tra, xác định chiếc xe ô tô biển số 66A-087.61, nhãn hiệu Toyota, màu đen là tài sản chung của Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc B (vợ của T), chị B không biết việc T sử dụng xe vào việc phạm tội.
Đối với đơn yêu cầu xử lý hình sự của Phạm Văn T đối với chị Nguyễn Ngọc H1 (mẹ của Huỳnh Quốc H), anh Lê Quốc T3 và anh Nguyễn Ngọc A với vai trò đồng phạm trong vụ cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra xác định, chị H1 không yêu cầu hay kêu H đến Công an xã L để tìm và đánh T. Việc H đến Công an xã L là do lúc H đi về nhà nghe chị H1 nói lại sự việc có người đến nhà đòi nợ ban đêm nên H nhờ anh T3 chở đến Công an xã L. Khi H nhờ anh T3 chở thì H chỉ nói chở đến Công an xã L có việc chứ không nói đến đó để làm gì. Anh T3 và anh  đi chung xe với H đến Công an xã L và đến nơi anh T3 và anh  khi thấy H đánh nhau với T chỉ vào ngăn cản chứ không cùng H đánh T. Vì vậy, kết luận điều tra và cáo trạng xác định chị H1, anh T3 và anh  không có đồng phạm về hành vi cố ý gây thương tích cùng với H.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc H 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị cáo Phạm Văn T kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Quốc H và yêu cầu khởi tố hình sự đối với ông Huỳnh Hoài T2, anh Lê Quốc T3 và anh Nguyễn Ngọc Â; kháng cáo kêu oan đối với tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”; không đồng ý bồi thường tiền thuê xe 162.600.000 đồng; Yêu cầu nhận lại chiếc xe của vợ chồng bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Văn T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
- Bị cáo kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Quốc H vì cho rằng cấp sơ thẩm xử quá nhẹ. Tuy nhiên, xét các tình tiết và nội dung trong vụ án, đồng thời mức hình phạt 1 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo H là phù hợp. Sau khi án sơ thẩm tuyên thì bị cáo không kháng cáo đã chấp nhận với hình phạt sơ thẩm.
- Bị cáo kháng cáo yêu cầu khởi tố hình sự đối với ông Huỳnh Hoài T2, Lê Quốc T3 và Nguyễn Ngọc  vì cho rằng xét bỏ lọt tội phạm. Nhưng theo các lời khai có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Ông T3 không có bàn bạc với H về việc xuống UBND xã L B để đánh T. Đồng thời khi H có hành vi cố ý gây thương tích với T thì anh T3 là người vào can ngăn H,  ngồi trên xe chứ không có hành vi gây thương tích đối với T.
- Bị cáo kháng cáo không chấp nhận mức bồi thường dân sự, việc bị cáo gây thiệt hại cho xe ô tô biển số 66A-160.01 làm thiệt hại tổng giá trị tài sản là 81.254.760 đồng, thì bị cáo có trách nhiệm bồi thường. Đối với việc bồi thường thiệt hại do mất thu nhập từ việc cho thuê xe biển số 66A-160.01 mỗi ngày là 600.000 đồng bị cáo không đồng ý bồi thường, xét thấy ông Lê Văn T4 không có căn cứ chứng minh là xe của ông có đăng ký dịch vụ cho thuê xe theo quy định và không chứng minh được thu nhập cụ thể từ việc cho thuê xe, đồng thời cơ quan điều tra có thông báo trả xe nhưng ông không đồng ý nhận về nên thiệt hại này không phải cho bị cáo T gây ra nên chưa đủ cơ sở buộc bị cáo bồi thường.
- Bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng mình không phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tuy nhiên căn cứ vào đoạn video quay được tại hiện trường và lời khai của những người liên quan trong vụ án có đủ căn cứ chứng minh bị cáo T đã có hành vi dùng dao chém vào gương chiếu hậu, đồng thời điều khiển xe đụng trực tiếp vào xe oto biển số 66A-160.01 hai lần làm thiệt hại tổng giá trị tài sản là 81.254.760 đồng.
- Đối với chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số má y 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, bị cáo T đã cố ý dùng phương tiện này để gây thiệt hại cho tài sản người khác nên xác định đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, tuy nhiên chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng nên chỉ tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số máy 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, đa qua sử dụng và bị hư hỏng, tên chủ xe Phạm Văn T; ½ giá trị chiếc xe còn lại thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc B.
Từ các phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, sửa một phần bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự, giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu:
- Luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về việc không buộc bị cáo bồi thường tiền thuê xe cho ông T4 và bà N.
- Bị cáo T là người phạm tội khi đang trong tình trạng bị kích động tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo H gây ra nên bị cáo bị hoảng loạn dùng xe chạy đụng vô xe của bên bị cáo H làm hư hỏng xe của H (xe thuê), việc này bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình và đã bồi thường xong cho bị hại. Đây là hành vi không chủ ý nên không có tội,
- Đối với hành vi ông Huỳnh Hoài T2, anh Lê Quốc T3 và Nguyễn Ngọc  có dấu hiệu bỏ lọt tội đối với các đối tượng này. Đây là những có vai trò chủ mưu, kích động tin thần cho bị cáo H và khi đến Ủy ban xã thì Quốc T3 và  cùng H thực hiện hành vi gây thương tích cho bị cáo T nên các bị cáo là đồng phạm trong vụ án.
- Về việc Viện kiểm sát đề nghị y án đối với bị cáo H thì luật sư không có ý kiến, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử lưu ý vấn đề các đồng phạm trong vụ án.
- Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo vừa bị xử phạt hình phạt là tù, tuy nhiên cấp sơ thẩm lại tiếp tục phạt bị cáo 30.000.000 đồng là không phù hợp với quy định pháp luật. Vì bị cáo phải chịu 02 hình phạt chính trong một điều luật.
- Về xử lý vật chứng: Việc bị cáo bị tích thu ½ chiếc xe là công cụ phạm tội, thì phần không tịch thu cần nhanh chống trao trả chiếc xe cho vợ bị cáo để bán thu hồi tiền và nộp lại phần tịch thu chứ kéo dài mất giá trị chiếc xe và bất lợi cho bị cáo.
Từ các phân tích trên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 358 Bộ luật hình sự hủy toàn bộ án sơ thẩm do có bỏ lọt tội và xử lý vật chứng trong vụ án không phù hợp.
- Ông Nguyễn Xuân K đại diện theo ủy quyền của ông T4 và bà N cho rằng chiếc xe ô tô biển số 66A-160.01 của ông T4, bà N có đăng ký dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái, có hợp đồng cho thuê xe cho H ngày xảy ra sự việc nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T bồi thường tiền thuê xe theo án sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo cho rằng bị cáo làm hư hỏng tài sản là do hoảng loạn không kiểm sát được hành vi nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo vô tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy án sơ thẩm như đề nghị của luật sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn T không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, qua lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 16/02/2022, do bị Huỳnh Quốc H có hành vi cố ý gây thương tích với mình, Phạm Văn T đã có hành vi dùng con dao để chém vào kính chiếu hậu bên trái và điều khiển xe ô tô của Tân đụng vào xe ô tô biển số 66A-160.01 hai lần hậu quả làm thiệt hại tài sản tổng giá trị là 81.254.760 đồng.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Phạm Văn T, Huỳnh Quốc H là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, biết rõ việc làm hư hỏng tài sản của người khác, gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Quốc H về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3.1] Bị cáo Phạm Văn T kháng cáo cho rằng hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của bị cáo là do tinh thần hoảng loạn, cố gắng tìm đường thoát khỏi hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Huỳnh Quốc H. Tuy nhiên, theo lời khai của anh Lê Quốc T3 và người làm chứng ông T7 Hùng Cường xác định bị cáo T có hành vi dùng con dao để chém vào kính chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 66A-160.01. Đồng thời xe của T3 đậu sát lề việc bị cáo khai nhận do hoảng loạn nên mới đâm vào xe của anh T3 là chưa phù hợp. Theo đoạn video anh Phạm Thành L quay được thì bị cáo T đã có hành vi điều khiển xe đâm hai lần vào xe ô tô biển số 66A-160.01 và có những lời lẽ thể hiện bị cáo cố tình làm hư hỏng chiếc xe. Do đó đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn T đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
[3.2] Bị cáo Phạm Văn T kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Quốc H nhưng xét mức hình phạt 1 năm 6 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo H là phù hợp, sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo H không kháng cáo chấp nhận với quyết định bản án sơ thẩm do đó không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo H của bị cáo T.
[3.3] Đối với ông Huỳnh Hoài T2 khai nhận chỉ biết việc con là H mình xuống UBND xã L để nói chuyện giải quyết chuyện nợ nần với phía bị cáo T không có bàn bạc với bị cáo H về việc đánh bị cáo T do đó không có dấu hiệu đồng phạm. Đối với anh Lê Quốc T3, Nguyễn Ngọc  khai nhận chỉ vào can ngăn bị cáo H đánh bị cáo T chứ không tham gia đánh bị cáo T do đó không có dấu hiệu đồng phạm. Từ các phân tích trên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T yêu cầu khởi tố với ông Huỳnh Hoài T2, anh Lê Quốc T3 và anh Nguyễn Ngọc Â.
[3.4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất thu nhập từ việc cho thuê xe biển số 66A-160.01 mỗi ngày là 600.000 đồng, Hội đồng xét xừ xét thấy việc ông Lê Văn T4 không có chứng cứ chứng minh là xe của ông có đăng ký dịch vụ cho thuê xe và không chứng minh được thu nhập cụ thể từ việc cho thuê xe, đồng thời cơ quan điều tra có thông báo trả xe nhưng ông không đồng ý nhận về nên thiệt hại này không phải cho bị cáo T gây ra nên không có cơ sở buộc bị cáo Tân vụ bồi thường số tiền 162.6000.000 đồng.
[3.5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính quy định từ khoản 1 đến khoản 4 của điều luật thì tại khoản 5 Điều 178 có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền nên cấp sơ thẩm phạt bị cáo 30.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, khi phạt bổ sung bằng tiền thì phải nhận định và phải áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự trong quyết định để tránh việc hiểu nhầm là bị cáo phải chịu 02 hình phạt chính trong một điều luật như luật sư khai nại.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số má y 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, bị cáo T đã cố ý dùng phương tiện này để gây thiệt hại cho tài sản người khác nên xác định đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, tuy nhiên chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng nên chỉ tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số máy 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, đa qua sử dụng và bị hư hỏng, tên chủ xe Phạm Văn T; ½ giá trị chiếc xe còn lại thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc B.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp một phần với nhận định tại mục [3] nên chấp nhận một phần.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với đơn yêu cầu ngày 14/3/2024, của ông Lê Văn T4 yêu cầu anh Lê Quốc T3 bồi thường thêm 7.836.070 đồng. Sau khi án sơ thẩm tuyên ông Lê Văn T4 không có kháng cáo và Tại phiên tòa ngày 14/3/2024, ông T4 đã khai nhận đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu trên.
[8] Do kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Chấp nhận một kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T. Sửa một phần bản án về trách nhiệm dân sự; Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Bị cáo Huỳnh Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự; các điều 2, 3, 6 và 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
- Buộc bị cáo Phạm Văn T bồi thường cho bị hại Lê Quốc T3 số tiền 81.254.760 đồng (T5 mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng).
- Buộc anh Lê Quốc T3 bồi thường cho ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Ngọc N số tiền 81.254.760 đồng (T5 mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng).
- Bị cáo Phạm Văn T không phải bồi thường cho ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Ngọc N số tiền 162.600.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Huỳnh Quốc H bồi thường cho bị hại Phạm Văn T số tiền chi phí khám, điều trị là 29.132.187 đồng (Hai mươi chín triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, một trăm tám mươi bảy đồng); thu nhập thực tế bị mất, giảm súc là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); chi phí, thu nhập thực tế bị mất của người nuôi bệnh, chăm sóc là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); tiền bù đắp về tổn thất tinh thần là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Tổng cộng các khoản là 92.132.187 đồng (Chín mươi hai triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, một trăm tám mươi bảy đồng).
- Tiếp tục quản lý số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) của bị cáo Phạm Văn T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001242, quyển số 0000025, ký hiệu biên lai AI-2022, ngày 21/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) con dao bằng kim loại dài 49cm, trong đó cán dao bằng kim loại tròn dài 14,5cm, đường kính cán dao là 2,1cm, giữa cán dao có ốp nhựa màu đen dài 04cm, lưỡi dào bằng kim loại màu trắng sáng dài 34,5cm, lưỡi dao có chiều rộng đều nhau với kích thước 02cm, có một cạnh sắc, mũi nhọn. Bao bên ngoài lưỡi dao có một vỏ bằng kim loại dáng hình trụ tròn, màu đen, dài 43,4cm được niêm phong bằng giấy màu trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp, có chữ ký ghi họ tên Huỳnh Minh T6, Nguyễn Văn H3 và Phạm Văn T.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 (Một) cây dù dài 53cm, cán dù bằng nhựa vàng đen dài 11,5cm, trên cán có dây quai bằng nylon màu trắng, thân dù bằng vải màu đỏ, trên thân dù có logo và dòng chữ TOYOTA màu trắng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số máy 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, đa qua sử dụng và bị hư hỏng, tên chủ xe Phạm Văn T; ½ giá trị chiếc xe còn lại thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc B.
- Tiếp tục tạm giữ chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, số máy 2GDC494015, số khung 3GS9J0492811, màu sơn màu đen, biển đăng ký 66A-087.61, đa qua sử dụng và bị hư hỏng, tên chủ xe Phạm Văn T để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, số máy 2NRX704742, số khung RL4B28F3XM5114388, màu sơn nâu vàng, biển số đăng ký 66A-160.01, đã qua sử dụng và bị hư hỏng, tên chủ xe Lê Văn T4 cho ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Ngọc N.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc H 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu và vật chứng ngày 03/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp)
Bị cáo Phạm Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 89/2024/HS-PT ngày 27/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản và cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 89/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản và Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
