Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày 28 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn

Ông Trương Công Minh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên toà:

Ông Trần Quốc Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Thành C, tên gọi khác: Duy; sinh ngày 13/6/1993 tại Cà Mau; ĐKNKTT: Khóm 1, Phường 4, thành phố C, tỉnh C; Chỗ ở hiện nay: Khóm 8, Phường 5, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Thành và bà Trương Thị Bích Tuyền; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng, tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Cà Mau. Chấp hành xong 12/5/2019.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11 tháng 01 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 20 tháng 01 năm 2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 00 ngày 11/01/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp cùng Công an Phường 8, thành phố Cà Mau tuần tra trên địa bàn. Khi đến khu vực Khóm 2, Phường 8, thành phố Cà Mau thì phát hiện Vương Thị Thảo Nguyên điều khiển xe moto biển kiểm soát 69F4 – 8095 chở bị cáo Huỳnh Thành C ngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện bị cáo Công thả từ trong lòng bàn tay trái xuống mặt lộ nhựa ngay vị trí bị cáo đứng 01 bọc nilon màu trắng, bên trong bọc nilon màu trắng có 02 bọc nilon màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng đục, dạng rắn nghi là ma túy nên bị cơ quan chức năng lập biên bản.

Tạm giữ tang vật gồm: 01 bọc nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 bọc nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục dạng rắn, nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, được niêm phong kín; 01 xe moto BKS 69F4 – 8095 (đã qua sử dụng).

Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy qua kết quả thử nước tiểu có 01 vạch màu hồng, chứng tỏ bị cáo có sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 22/KL-KTHS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau: Chất bột màu trắng đục, dạng rắn bên trong 02 bọc nilon màu trắng được cuộn lại, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.03/2024 được gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7609 gam, loại Heroin.

Qua quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Vào khoảng hơn 04 giờ ngày 11/01/2024, bị cáo đang ở nhà tại Khóm 8, Phường 5, thành phố Cà Mau, do có nhu cầu muốn sử dụng ma túy nên bị cáo gọi điện thoại cho bạn gái là Vương Thị Thảo Nguyên chở Công đi mua ma túy nhưng nói với Nguyên là chở Công đi công chuyện nên Nguyên đồng ý. Một lúc sau, Nguyên điều khiển xe moto mang biển kiểm soát 69F4 – 8095 đến nhà và chở bị cáo qua đầu hẻm Bình Minh (Xóm Kiếp) thuộc khóm 2, Phường 8, thành phố Cà Mau. Khi đến nơi, bị cáo kêu Nguyên đợi, bị cáo đi vào hẽm, gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không rõ nhân thân và hỏi mua 300.000 đồng ma túy, người phụ nữ đưa lại cho bị cáo 01 bọc nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 bọc nilon màu trắng đều có chứa chất ma túy, loại Heroin. Sau đó bị cáo ra xe, Nguyên chở bị cáo về. Khi đi được một đoạn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do sợ quá nên bị cáo thả 01 bọc nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 bọc nilon màu trắng đều có chứa ma túy xuống mặt lộ nhựa ngay vị trí bị cáo đang đứng, lực lượng Công an lập biên bản cùng tang vật.

Tại bản cáo trạng số: 93/CT-VKS ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, Kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối bị cáo và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy hoàn lại sau khi trích giám định.

Đối với xe 01 xe moto BKS 69F4 – 8095 (đã qua sử dụng) là của anh Nguyễn Tấn Lên, bạn của Nguyên, cho Nguyên mượn. Nguyên dùng xe trên chở bị cáo đi mua ma túy, anh không biết nên cơ quan điều trả đã trả lại xe trên cho anh Lên.

Đối với Vương Thị Thảo Nguyên, quá trình điều tra Nguyên không biết việc chở bị cáo đi mua ma túy, không có hùn tiền cùng mua ma túy với bị cáo nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyên.

Đối với người phụ nữ bán ma túy theo lời khai của bị cáo hiện tại chưa xác định được nhân thân nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh khi có căn cứ xử lý sau.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 06 giờ 00 ngày 11/01/2024, tại khu vực Khóm 2, Phường 8, thành phố Cà Mau, bị cáo Huỳnh Thành C có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,7609 gam, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, không những gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn gián tiếp tạo ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

[3.1] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[3.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về mức lượng hình: Xét thấy thời gian qua tội phạm về ma túy diễn ra nhiều, phần nào làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trên địa bàn thành phố Cà Mau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội, để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi vi phạm pháp luật mà mình đã thực hiện.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy hoàn lại sau khi trích giám định.

Đối với xe 01 xe moto BKS 69F4 – 8095 (đã qua sử dụng) là của anh Nguyễn Tấn Lên, bạn của Nguyên, cho Nguyên mượn. Nguyên dùng xe trên chở bị cáo đi mua ma túy, anh không biết nên cơ quan điều đã trả lại xe trên cho anh Lên là phù hợp.

Đối với Vương Thị Thảo Nguyên, quá trình điều tra Nguyên không biết việc chở bị cáo đi mua ma túy, không có hùn tiền cùng mua ma túy với bị cáo nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyên là phù hợp.

Đối với người phụ nữ bán ma túy theo lời khai của bị cáo hiện tại chưa xác định được nhân thân nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh khi có căn cứ xử lý sau.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành C 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày tạm giữ, ngày 11 tháng 01 năm 2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy hoàn lại sau khi trích giám định theo quyết định chuyển giao vật chứng ngày 22/4/2024.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau; VKSND TP Cà Mau;
  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan điều tra CATPCM;
  • - Cơ quan THA hình sự,
  • THA dân sự TP Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ, AV, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Trương Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành C 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày tạm giữ, ngày 11 tháng 01 năm 2024. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy hoàn lại sau khi trích giám định theo quyết định chuyển giao vât chứng ngày 22/4/2024. 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp). Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger