Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST.

Ngày: 27-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Tăng Tài Thủ - Chức vụ: Nguyên Ủy viên thường trực - Ủy ban Mặt trận quận Thốt Nốt.
  2. Bà Trần Thúy Kiên - Chức vụ: Nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Thuận Hưng, quận Thốt Nốt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoài T, sinh năm 1991; Đăng ký thường trú: số H, tổ dân phố C, khu phố C, đường T, phường T, quận Thành Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: không rõ; họ tên mẹ: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Vợ: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1995; Con: có 01 người, sinh năm 2021; Tiền sự: 01 lần. Vào ngày 13/8/2021 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 17 tháng, đến ngày 26/10/2022 chấp hành xong; Tiền án: 01 lần. Ngày 09/12/2014, bị Toà án nhân dân huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang, xử sơ thẩm phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/03/2015, Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/02/2016, chưa chấp hành xong phần án phí sơ thẩm và phúc thẩm; Về nhân thân: Bị Tòa án nhân dân quận tuyên xử 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo bản số 231/2011/HSST ngày 25/11/2011, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2013 (đã xóa án tích); Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, Kiên Giang tuyên xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản số 24/2017/HS-ST ngày 17/5/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2018 (đã xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 cho đến nay, tại Nhà T Công an quận T, thành phố Cần Thơ (có mặt tại phiên tòa).
  2. Nguyễn Văn D, sinh ngày: 08/8/2006 (đến ngày phạm tội được 17 năm 8 tháng 28 ngày tuổi); Đăng ký thường trú: không rõ; Nơi ở hiện nay: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: không rõ; Họ tên mẹ: Đặng Thị P (đã chết); Chị: có 02 người (lớn - sinh năm 1995, nhỏ - sinh năm 1998); Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm Công an quận T, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Chúc Linh – thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C.

- Người bị hại: Bà Tiêu Thị Ngọc H1 – sinh 1982. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn C – sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
  2. Huỳnh Thị T1 – sinh 1995. Địa chỉ: 8/19/13 tổ phố 38, khu 3, đường T, phường T, quận T. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Thanh K – sinh năm 1983. Địa chỉ: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
  2. Ông Bùi Tấn Đ – sinh 1983. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
  3. Ông Trần Thanh T2 – sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 06/5/2024, Nguyễn Hoài T rủ Nguyễn Văn D đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chi tiêu, D đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59Y3-264.06 chở D từ ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang đến địa phận quận T, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản cướp giật. Khi đến khu vực P, phường T, quận T thì T phát hiện ông Bùi Tấn Đ đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F1-070.61 chở bà Tiêu Thị Ngọc H1 lưu thông cùng chiều phía trước, bà H1 có để một cái túi xách màu vàng nâu nhạt có hoạt tiết chữ “MK” màu xám ở giữa, T nói với D "được hong". D trả lời "làm thử mới biết". Liền lúc này, T điều khiển xe mô tô áp sát phía bên phải xe mô tô của ông Đ và bà H1, D dùng tay trái giật túi xách của bà H1T tăng ga bỏ chạy về hướng huyện V. Khi đến đoạn thuộc ấp E, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ, T dừng xe và cùng D kiểm tra bên trong túi xách vừa giật được của bà H1, phát hiện có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max dung lượng 512GB, số tiền 600.000 đồng và một số dụng cụ cá nhân. TD lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max dung lượng 512GB và 600.000 đồng còn dụng cụ cá nhân và túi xách Dương ném vào bụi cây ven đường. Sau khi lấy tài sản, T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở D về nhà D tại ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59Y3-264.06 chở Trần Thanh T2 đến tiệm Đ1 do ông Phan Thanh K làm chủ, thuộc khóm T, thị trấn Ố, huyện T, tỉnh An Giang để bán điện thoại, do điện thoại bị khóa màn hình nên ông K không đồng ý mua. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59Y3-264.06 chở T2 đến tiệm Đ2 do Nguyễn Văn C làm chủ thuộc ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang bán điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max dung lượng 512GB với giá 3.500.000 đồng; D giữ 700.000 đồng để chi xài còn lại 2.800.000 đồng đưa cho T. Số tiền bán điện thoại mà D đưa và số tiền cướp giật được 600.000 đồng Thanh đã chi xài cá nhân còn lại 200.000 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra, bà H1 đến trình báo Công an phường T. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành trích xuất dữ liệu camera trên các đoạn đường và thu thập các chứng cứ có liên quan, xác định: Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D là người cướp giật tài sản của bà H1 nên tiến hành mời TD làm việc, qua làm việc TD thừa nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp, cụ thể:

- Nguyễn Văn D giao nộp: 01 (một) quần jean màu đen, nhãn hiệu Power, qua sử dụng; 01 (một) áo thun tay dài màu đen, trên ngực trái có hình con gấu, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép màu đen, đế dép màu đen in chữ Venbu, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai nửa đầu, màu trắng viền hồng, đã qua sử dụng.

- Nguyễn Hoài T giao nộp: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha số loại Jupiter màu xanh đen gắn biển số 59Y3-264.06 không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 (một) quần jean dài màu đen, túi quần sau có dính vết màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen, phía sau có chữ "NWN" đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép có sọc trắng đen, đế dép màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng sọc xanh lá cây, có gắn kính, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số loại Galaxy A50s màu xanh dương đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và Tiền Việt Nam: 200.000 đồng.

- Ông Nguyễn Văn C giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro maxlượng 512Gb đã qua sử dụng. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm và tạm giữ: 01 (một) túi đeo chéo kích thước 40cmx40cm, màu vàng nâu nhạt, hoạ tiết chữ “MK” màu xám, quai đeo chéo màu nâu đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 33/BKL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ, kết luận: 01 (một) túi đeo chéo kích thước 40cmx40cm, màu vàng nâu nhạt, hoạ tiết chữ “MK” màu xám, quai đeo chéo màu nâu đã qua sử dụng có giá trị là 300.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max, dung lượng 512GB, IMEI: 356303487733089 đã qua sử dụng có giá trị là 25.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 25.300.000 đồng (Bút lục 50 – 51).

Tại Kết luận giám định về độ tuổi trên người sống số 61/KLGĐĐT-TTPYCT ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm pháp y thành phố C, kết luận: Nguyễn Văn D có độ tuổi từ 17 năm 09 tháng đến 18 năm 03 tháng (tại thời điểm giám định ngày 08/05/2024) (Bút lục 60 – 61).

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Hoài T, Nguyễn Văn D và bị hại Tiêu Thị Ngọc H1 đều không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận định giá và kết luận giám định nêu trên.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành tạm giữ các tang vật và đồ vật theo quy định; đồng thời ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Tiêu Thị Ngọc H1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max dung lượng 512Gb và 01 (một) túi đeo chéo kích thước 40cmx40cm, màu vàng nâu nhạt có họa tiết chữ "MK" màu xám, quai đeo màu nâu, đã qua sử dụng (Bút lục 56 – 57).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn C không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền bán điện thoại là 3.500.000 đồng. Đối với bị hại bà Tiêu Thị Ngọc H1 đã nhận lại tài sản nên bà xác định không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 91/CT-VKSTN ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ truy tố Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây được gọi là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội và thống nhất nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với xe máy nhãn hiệu Yamaha số loại Jupiter màu xanh đen gắn biển số 59Y3-264.06 bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội, ngoài ra bà không trình bày gì thêm.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài T. Xử phạt Nguyễn Hoài T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D. Xử phạt Nguyễn Văn D từ 02 năm đến 03 năm tù giam.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo T do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Đối với bị cáo D là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D.

- Về trách nhiệm dân sự: Người liên quan ông Nguyễn Văn C không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền bán điện thoại là 3.500.000 đồng. Đối với bị hại bà Tiêu Thị Ngọc H1 đã nhận lại tài sản nên bà xác định không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.

- Về xử lý vật chứng và tiền thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung Ngân Nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha số loại Jupiter màu xanh đen gắn biển số 59Y3-264.06 không kiểm tra tình trạng bên trong thuộc sở hữu của vợ chồng TT1 do bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo T do đây là tiền thu lợi bất chính liên quan đến việc phạm tội.

Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi 3.200.000 đồng và bị cáo D nộp lại số tiền thu lợi 700.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) quần jean dài màu đen, nhãn hiệu Power, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun tay dài màu đen, trên ngực trái có hình con gấu, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép màu đen, đế dép màu đen in chữ Venbu, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai nửa đầu, màu trắng viền hồng, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo D; 01 (một) quần jean dài màu đen, túi quần sau có dính vết màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen, phía sau có chữ "NWN" đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép có sọc trắng đen, đế dép màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng sọc xanh lá cây, có gắn kính, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo T do không có giá trị sử dụng và các bị cáo không có nhu cầu nhận lại.

Trả lại Nguyễn Hoài T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số loại Galaxy A50s màu xanh dương đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong do không liên quan đến việc phạm tội.

Trong điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết xử lý vật chứng trả lại bị hại bà Tiêu Thị Ngọc H1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro maxlượng 512Gb đã qua sử dụng và 01 (một) túi đeo chéo kích thước 40cmx40cm, màu vàng nâu nhạt, hoạ tiết chữ “MK” màu xám, quai đeo chéo màu nâu đã qua sử dụng nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo D:

Thống nhất tội danh và Điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố đối với bị cáo. Trợ giúp viên cũng thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời, nhấn mạnh về trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, nhận thức pháp luật, nhân thân bị cáo. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt dành cho bị cáo theo mức thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo D thống lời bào chữa của Trợ giúp viên, bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tham gia tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của C1 hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C2 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa bị hại Tiêu Thị Ngọc H1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C và những người làm chứng ông Phan Thanh K, ông Bùi Tấn Đ và ông Trần Thanh T2 vắng mặt không rõ lý do. Xét, trong quá trình điều tra Cơ điều tra đã thu thập rõ lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan và người làm chứng vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 290 và 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo TD đều đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ cũng như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, kết luận định giá... Như vậy, có cơ sở xác định, vào ngày 06/5/2024 tại khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo Nguyễn Hoài T đã có hành vi điều khiển xe mô tô chở bị cáo Nguyễn Văn D ngồi sau giật 01 (một) túi đeo chéo kích thước 40cmx40cm, màu vàng nâu nhạt có họa tiết chữ "MK" màu xám, quai đeo màu nâu, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax với tổng giá trị qua định giá là 25.300.000 đồng và số tiền 600.000 đồng của bị hại bà Tiêu Thị Ngọc H1 rồi nhanh chóng chạy tẩu thoát. Hành vi sai trái mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 171 Bộ luật hình sự. Do khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo sử dụng xe mô tô mang biển kiểm soát 59Y3-264.06 làm phương tiện phạm tội thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm nên các bị cáo phải gánh chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 của Điều luật này. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương; Với thủ đoạn sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để làm phương tiện đi cướp giật tài sản mà các bị cáo thực hiện rất có khả năng xảy ra nguy hiểm đối với sức khỏe, tính mạng của bị hại cũng như những người đang tham gia giao thông và nguy hiểm cho chính bản thân các bị cáo. Do vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đánh giá vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[4.1] Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hoài T là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng không chịu khó chuyên tâm lao động chân chính để tạo ra của cải vật chất cho bản thân, gia đình và xã hội, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật cũng như biết rõ việc sử dụng xe mô tô để làm phương tiện cướp giật tài sản là nguy hiểm có thể gây ra tai nạn giao thông nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của bản thân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, còn 01 tiền sự chưa hết hạn và 01 tiền án chưa được xóa. Ngoài ra, trước đó còn có hai tiền án cũng về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân để phấn đấu sống tốt hơn. Sau khi chấp hành xong biện pháp cai nghiện và hình phạt tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội khi có điều kiện. Điều đáng trách hơn là bị cáo đã rủ rê bị cáo D là người chưa đủ 18 tuổi và lại chính là em vợ của bị cáo. Từ đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật, không có ý chí phục thiện. Do vậy, cần thiết xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có đủ thời gian suy ngẫm lại chính mình và có ý thức chấp hành pháp luật được tốt hơn.

[4.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn D là thanh niên còn trẻ nhưng không chịu khó phấn đấu rèn luyện bản thân, phấn đấu sống có ích lại lười lao động. Bị cáo thừa nhận bản thân có nhận thức được việc làm của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mong muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên khi bị cáo T rủ đi cướp giật tài sản, bị cáo đồng ý ngay và cũng chính bị cáo là người trực tiếp cướp giật túi xách bên trong có tiền và điện thoại của bị hại. Sau khi cướp giật được tài sản cũng chính bị cáo là người mang tài sản đi tiêu thụ và cùng hưởng lợi số tiền thu lợi có được cho thấy bị cáo cũng giúp sức tích cực cho bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mà bị cáo thực hiện thể hiện sự manh động, liều lĩnh, xem thường pháp luật. Vì vậy cũng cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích sau này.

[5] Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo có một tiền sự bị đưa đi cai nghiện bắt buộc chưa hết thời hạn được xem là chưa có tiền sự và một tiền án về tội Trộm tài sản chưa được xóa án tích. Ngoài ra, trước đó bị cáo từng có hai tiền án về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích. Đối với bị cáo D có nhân thân tốt chưa tiền án và tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6.1] Đối với bị cáo T có một tiền án chưa được xóa nhưng vào ngày 06/5/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi cố ý cướp giật tài sản của người khác và xúi giục bị cáo D là người chưa thành niên phạm tội nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm và xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm h, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6.2] Đối với bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo D tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội dành cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do hiện bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đối với bị cáo D là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong điều tra bị hại bà Tiêu Thị Ngọc H1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C xác định không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 3.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[10] Về tiền thu lợi bất chính và xử lý vật chứng: Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn CTrần Thanh T2 không biết điện thoại di động mà Nguyễn Văn D bán do cướp giật mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập đến vấn xử lý là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[13] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài T.
  • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D.
  • Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo T tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2024; đối với bị cáo D1 từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024.

    Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo T; Không áp dụng đối với bị cáo D.

  2. Về xử lý vật chứng và tiền thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu sung Ngân Nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha số loại Jupiter màu xanh đen gắn biển số 59Y3-264.06 không kiểm tra tình trạng bên trong và số tiền thu lợi bất chính 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo T.
    • - Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi 3.200.000₫ (Ba triệu hai trăm ngàn đồng) và bị cáo D nộp lại số tiền thu lợi 700.000₫ (Bảy trăm ngàn đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) quần jean dài màu đen, nhãn hiệu Power, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun tay dài màu đen, trên ngực trái có hình con gấu, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép màu đen, đế dép màu đen in chữ Venbu, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai nửa đầu, màu trắng viền hồng, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo D; 01 (một) quần jean dài màu đen, túi quần sau có dính vết màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen, phía sau có chữ "NWN" đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép loại dép quai ngang, quai dép có sọc trắng đen, đế dép màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng sọc xanh lá cây, có gắn kính, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo T.
    • - Trả lại Nguyễn Hoài T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số loại Galaxy A50s màu xanh dương đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài TNguyễn Văn D mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
  5. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Hoài T và Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo T tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2024; đối với bị cáo D1 từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger