Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 27/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tô Thị Lành
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/HSST - QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

ĐÀO TRUNG T (tên gọi khác: M), sinh ngày 26 tháng 12 năm 1993 tại Kon Tum;

Thường trú: Thôn KH, xã YL, huyện ST, tỉnh Kon Tum và chổ ở: Nhà trọ hẻm 85 đường VVK, tổ 03, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy H (đã chết) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1971; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Bùi Thị Ánh T, sinh năm 1999, có 01 con chung sinh năm 2018; nhân thân xấu;

  • - Ngày 22 tháng 6 năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại bản án số 90/2016/HSST, chấp hành án tại Trại giam XP - Bộ công an, ngày 13 tháng 11 năm 2017 chấp hành xong hình phạt, ngày 06 tháng 3 năm 2018 được xác nhận chấp hành xong án phí.
  • - Ngày 21 tháng 02 năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố P áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định số 08/QĐ – TA, chấp hành tại Cơ sở Tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai, ngày 18 tháng 7 năm 2021 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính.
  • - Ngày 06 tháng 7 năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại bản án số 84/2022/HSST, chấp hành án tại Trại giam GT - Bộ công an, ngày 16 tháng 6 năm 2023 chấp hành xong hình phạt, ngày 04 tháng 3 năm 2024 được xác nhận chấp hành xong án phí.

Tiền án: 01, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 16 tháng 12 năm 2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1965; địa chỉ: Nhà trọ hẻm số 85 đường VVK, tổ 03, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Người chứng kiến: Ông Trương Văn L1; địa chỉ: Tổ 03, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Trung T sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian năm 2015 và có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua mối quan hệ xã hội, T có số điện thoại của đối tượng tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) là người bán ma túy. Vào khoáng 01 giờ 00 phút ngày 16 tháng 12 năm 2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã gọi điện thoại cho H1 hỏi mua ma túy thì H1 đồng ý và hẹn T giao dịch ở trước số nhà 73 đường HMT, phường TB, thành phố P. Sau đó, T đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) chở đến điểm hẹn và đã mua của H1 01 bì nilon chứa ma túy với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần mặc trên người, rồi đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) chở về nhà trọ ở hẻm 85 đường VVK tổ 03, phường YT, thành phố P. Khoảng 12 giờ cùng ngày, tại nhà trọ, T đã lấy một ít ma túy ra để sử dụng; số ma túy còn lại, T tiếp tục cất giấu trong túi quần mặc trên người với mục đích để sử dụng dần. Đến 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang ở phòng trọ, thấy lực lượng Công an đến kiểm tra, sợ bị phát hiện nên T đã đổ bì nilon chứa ma túy vào hộp giấy để cất giấu nhưng chưa kịp cất giấu thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phát hiện và bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 01 bì nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã niêm phong theo quy định); 01 hộp giấy màu đỏ có nắp đậy, trên nắp có chữ “Mira” và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen ( bị nứt vỡ mặt sau, màn hình trầy xước) kèm sim số, đã qua sử dụng.

Qua trưng cầu, tại Kết luận giám định số 15/KL- KTHS ngày 25 tháng 12 năm 2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) bì nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4652gam"

Tại Bản cáo trạng số 76/CT - VKS ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Đào Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Đào Trung T thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P nêu trong Bản cáo trạng. Bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại gì đối với Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Đào Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất hướng xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bà Đoàn Thị L - chủ nhà trọ nơi bị cáo T thuê ở, bà không biết việc T tàng trữ ma túy tại phòng trọ để sử dụng nên cơ quan cảnh sát điều tra không tuy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối tượng tên H1 là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra T không biết nhân thân, lai lịch của đối tượng tên Hùng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã kiểm tra danh bạ, cuộc gọi, tin nhắn trong điện thoại của T nhưng không xác định được số điện thoại của H1 cũng như tin nhắn có nội dung liên quan đến mua bán ma túy; tiến hành xác minh tại khu vực phường TB, thành phố P nhưng không xác định được đối tượng tên H1 nên chưa có căn cứ để điều tra xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 17 giờ 00 ngày 16 tháng 12 năm 2023, tại nhà trọ ở hẻm 85 đường VVK, tổ 03, phường YT, thành phố P, hai lực lượng lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy của Công an tỉnh Gia Lai và của Công an thành phố P phối hợp kiểm tra, bắt quả tang Đào Trung T đang cất giấu trong hộp giấy Mira 01 bì nilon chứa ma túy, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4652 gam để sử dụng cho bản thân.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II.C được ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; thuộc chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ chất Methamphetamine phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định như sau “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam".

Như vậy hành vi của bị cáo Đào Trung T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố.

Methamphetamine là chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp, sử dụng lâu dài ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây nên tình trạng ảo giác, hạn chế khả năng kiểm soát hành vi từ đó người nghiện thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, nguồn gốc phát sinh các tội phạm và những tệ nạn xã hội khác nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Bản thân nhiều lần chấp hành hình phạt và biện pháp xử lý hành chính liên quan đến ma túy, gần nhất ngày 16 tháng 6 năm 2023 Đào Trung T vừa chấp hành xong hình phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa đủ điều kiện xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe, cảnh tỉnh bị cáo trở thành công dân tốt.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Trung T.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 (một) bì công văn ghi số 15/PC09 ngày 25 tháng 12 năm 2023, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là ma túy còn lại sau khi giám định được hoàn trả, xét đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, kèm sim số bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước
  • - Đối với 01 (một) hộp giấy màu đỏ có nắp đậy, trên hộp giấy có chữ “Mira”, đây là công cụ bị cáo dùng để cất giấu bì nilon chứa ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đào Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đào Trung T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 16 tháng 12 năm 2023.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn dán kín ghi số 15/PC09 ngày 25 tháng 12 năm 2023, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai (có các chữ ký ghi họ và tên của Bùi Sĩ T, Nguyễn Tất N, Nguyễn Đại H) và 01 (một) hộp giấy màu đỏ có nắp đậy, trên nắp hộp giấy có chữ “Mira” (đã qua sử dụng).

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, kèm sim số (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng bên trong)

(Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đào Trung T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố P;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố P;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

VÕ THỊ THANH THÚY

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ heroin
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger