Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 27-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú -Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh ngày 22 tháng 05 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận N, thành Phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức S và bà Đào Thị C, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 1857/HSPT ngày 23/12/2003 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản; bản án số 167/HSST ngày 28/11/2007 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; bản án số 83/HSPT ngày 16/8/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 04/01/2024; tạm giam ngày 10/01/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác thuộc Công an phường K làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn, khi đi đến khu vực trước Cổng C, trường Đại Học H1, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng thì phát hiện thấy Nguyễn Đức T đang đi xe đạp có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi áo khoác phía trong bên trái của T 02 túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2,5cm chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng kích thước 06x09cm chứa thảo mộc khô nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng; 01 xe đạp màu đen bạc; 01 túi vải màu đen bên trong có 01 tẩu thủy tinh màu trắng và 02 ống hút nhựa màu trắng. Tổ công tác đã đưa T về trụ sở Công an phường K biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 24/ KL-KTHS(MT) ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của T là ma túy, có khối lượng 0,31gam, là loại Ketamine; tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của T là ma túy, có khối lượng 0,33gam, là loại Methamphetamine; thực vật khô trong túi nilon thu giữ của T là ma túy, có khối lượng 0,55 gam, là loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 04/01/2024, T đi bộ đến khu vực đường C, quận H, thành phố Hải Phòng thì gặp T1 là người quen xã hội. Do T biết T1 có ma túy nên đã nói với T1 cho tý đồ, mục đích là xin ma tuý để sử dụng. T1 lấy trong người ra 01 túi nilon ma tuý đá; 01 túi nilon Ketamine và 01 túi nilon cần sa đưa cho T. T cất số ma tuý trên vào trong túi áo khoác phía trong bên trái rồi đi về nhà, T lấy một ít cần sa sử dụng, phần cần sa còn lại T cất vào túi áo khoác phía trong bên trái. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T nảy sinh ý định sử dụng ma tuý đá nên đã đi xe đạp đến một cửa hàng ở khu vực đường K mua 01 tẩu thuỷ tinh và 02 ống hút nhựa. Mua xong, T cất vào túi vải đen và để ở giỏ xe đạp rồi đi về nhà, khi đi đến khu vực trước Cổng C, trường Đại Học H1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Đối với người nam giới tên T1 đã cho T ma túy, do không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, làm rõ.

Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 17 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

* Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư, 01 túi vải màu đen, 01 tẩu thủy tinh màu trắng và 02 ống hút nhựa màu trắng

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng và 01 xe đạp mini màu đen bạc.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực trước cổng C, trường Đại học H1, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,33gam Methamphetamine, 0,31gam ketamine và 0,55gam Cần sa để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Bị cáo tàng trữ trái phép 03 chất ma túy, trong đó có 0,33gam Methamphetamine, 0,31gam ketamine và 0,55gam Cần sa. Theo hướng dẫn tại

Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu của Methamphetamine được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 6,6%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 1,55%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng lá, hoa của cây Cần sa so với mức tối thiểu lá, hoa của cây Cần sa được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,0055%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 8,1555%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine, ketamine và Cần sa so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là dưới 100% nên bị cáo Nguyễn Đức T bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Methamphetamine, ketamine và Cần sa là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã cất giữ trái phép để sử dụng. Về nhân thân, bị cáo có 03 tiền án, tuy đã được xóa án tích nhưng qua đó cũng cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[9] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;

[10] Đối với 01 túi vải màu đen, 01 tẩu thuỷ tinh màu trắng và 02 ống hút nhựa màu trắng, xét là vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

[11] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng và 01 xe đạp mini màu đen bạc; quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 24MT/PC09, 01 túi vải màu đen, 01 tẩu thuỷ tinh màu trắng và 02 ống hút nhựa màu trắng;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng có số Imel 352711092417431 và 01 xe đạp mini màu đen bạc.

(Theo đúng Biên bản nhận vật chứng ngày 19 tháng 04 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
  • - Sở tư pháp TP Hải Phòng;
  • - PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - UBND phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T - tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger