|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2024 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Mộng Thu;
- Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 246/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị M, sinh năm 1984; thường trú: ấp Đ, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: nhà trọ Trương Văn H, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1981; thường trú: ấp Đ, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: nhà T, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đinh Thị M trình bày:
Bà M và ông Hồ Văn K sống chung với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/11/2005. Sau khi cưới, bà M1, ông K chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K sống không quan tâm đến gia đình, vợ con. Khi mâu thuẫn xảy ra, bà M và ông K đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân được 05 năm. Do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông K.
Về con chung: Trong quá trình sống chung bà M và ông K có 02 con chung tên Hồ Ngọc H1, sinh ngày 31/12/2001 và Hồ Minh Đ, sinh ngày 31/12/2004, các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Văn K trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Đinh Thị M. Do tình cảm vợ chồng không còn nên trước yêu cầu khởi kiện của bà M, ông K đồng ý ly hôn.
Về con chung: Thống nhất ý kiến trình bày của bà M về con chung, các con chung tên Hồ Ngọc H1, sinh ngày 31/12/2001 và Hồ Minh Đ, sinh ngày 31/12/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về tố tụng: quá trình Tòa án giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị M với bị đơn ông Hồ Văn K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn bà Đinh Thị M, bị đơn ông Hồ Văn K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Bà Đinh Thị M và ông Hồ Văn K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/11/2005, là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà M thì trong thời gian chung sống giữa bà và ông K phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K sống không quan tâm đến gia đình, vợ con, vợ chồng đã sống ly thân. Bị đơn ông Hồ Văn K thống nhất ý kiến trình bày của bà M và đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà M và ông K là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, bà M yêu cầu được ly hôn với ông K là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về con chung: Bà M và ông K có 02 con chung tên Hồ Ngọc H1, sinh ngày 31/12/2001 và Hồ Minh Đ, sinh ngày 31/12/2004, đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: nguyên đơn bà Đinh Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị M đối với bị đơn ông Hồ Văn K về việc: “Ly hôn” như sau:
- - Về hôn nhân: Bà Đinh Thị M được ly hôn với ông Hồ Văn K.
- - Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Bà Đinh Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001617 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Hương Diệp |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Đinh Thị Mãi - Hồ Văn Khải
