Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỎ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 25-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Minh Quý; Ông Giàng A Vư

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Viết T- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến (điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ; điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh L) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T1; giới tính: Nam; sinh ngày 15/02/1998; Nơi sinh: Huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phan Văn C, sinh năm 1969 và con bà Lò Thị T2, sinh năm 1975; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Teo Thị Ngọc T3, sinh năm 2000; Con có 02 con: con lớn sinh năm 2017, con nhỉ sinh năm 2018; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 22/7/2022 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ra Quyết định số 15/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Văn T1 trong thời gian 01 năm 06 tháng. Đến ngày 22/01/2024, Phan Văn T1 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;

Về nhân thân: Ngày 10/9/2020, Công an huyện P ra Quyết định số 23/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Văn T1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 15/9/2020, hiện được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến ngày 04/5/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Teo Văn V, sinh năm 1973; địa chỉ: Bản V, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T1 khai bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 25/4/2024, T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25P1-018.15 (T1 mượn của bố vợ là ông Teo Văn V) đi đến xã M, huyện P để tìm người đi mua ma túy cùng sử dụng. Khi đi đến bản V, xã M, T1 gặp một người đàn ông tên L (không rõ năm sinh, địa chỉ) cũng là người nghiện chất ma túy. T1 hỏi L: có tiền mua ma túy không, L trả lời: không có tiền. L nói ở xã B, huyện P có người chủ thuê người làm, trả công bằng H và rủ T1 đi cùng, T1 đồng ý. Sau đó, T1 và L mỗi người điều khiển một xe mô tô đi đến bản N, xã B, huyện P. Khi đi đến nơi, L bảo T1 đứng chờ còn L đi gặp người chủ ứng trước Heroine. Khoảng 10 phút sau, L quay lại đưa 01 gói Heroine cho T1 cầm. T1 cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi cùng L đi tìm chỗ sử dụng. Hồi 13 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, khi Phan Văn T1 đi đến bản P, xã K, huyện P thị bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của T1 01 gói Heroine và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25P1-018.15. Quá trình bắt T1, L điều khiển xe mô tô đi trước bỏ chạy thoát, lực lượng Công an không bắt giữ được.

Ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 20/KL-TCGĐ ngày 25/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: gói chất bột màu trắng thu giữ của Phan Văn T1 có khối lượng là: 0,23 gam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trích 0,1 gam trong tổng số 0,23 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Phan Văn T1 theo T1 khai nhận là H1 gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 487/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Bản cáo trạng số 48/CT-VKSPT ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Phan Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 40/KLĐT ngày 10/6/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Teo Văn V trình bày không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe môtô biển kiểm soát 25P1-018.15 đi mua ma túy sử dụng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe môtô trên cho anh.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại bản P, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu bị cáo Phan Văn T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,23 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Ngày 22/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt thời gian 01 năm 06 tháng. Đến ngày 22/01/2024 bị cáo chấp hành xong nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính và ngày 10/9/2020, Công an huyện P ra Quyết định số 23/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 15/9/2020, hiện được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; khi bị công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nguồn thu thấp và không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,23 gam Heroine thu giữ của Phan Văn T1, Cơ quan điều tra đã trích 0,10 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 0,13 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì công văn do Công an huyện P phát hành không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô biển kiểm soát 25P1-018.15, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Teo Văn V). Xét thấy là tài sản hợp pháp của anh Teo Văn V nên cần trả lại cho anh V theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai do L ứng trước của người chủ thuê người làm. T1 không rõ nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với người đàn ông tên L, bị cáo khai không biết họ, năm sinh, địa chỉ và không nhớ biển kiểm soát xe mô tô do L điều khiển. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Teo Văn V là sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25P1-018.15. Quá trình điều tra xác định, ông V không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, không xử lý đối với Teo Văn V.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 5 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  4. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư niêm phong của Công an huyện P, màu trắng hình chữ nhật bên trong đựng 0,13 gam Heroin và 01 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

    Trả lại một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen Biển kiểm soát 25P1-018.15, số khung 648710; số máy 648770, kèm chìa khóa xe ( xe đã qua sử dụng) và 01 đăng ký xe số 001486, cấp ngày 06/9/2012, chủ đăng ký Teo Văn V, loại xe đăng ký Yamaha Sirius màu đỏ đen Biển kiểm soát 25P1-018.15, số khung 648710; số máy 648770 cho anh Teo Văn V, sinh năm 1973; địa chỉ: Bản V, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 11/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ:
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger