Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/DSPT

Ngày: 24/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm
Bà Lê Thị Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLPT-DS ngày 20/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 64/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu phố Y, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Bà Bùi Thị C; sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn V, huyện T, Thanh Hóa.

( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, các tài liệu trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Ngày 12/7/2023 bà có cho bà Bùi Thị C vay số tiền 43.800.000 đồng, thời gian vay là 10 ngày, khi vay hai bên thỏa thuận miệng với nhau nếu hết hạn mà bà C không trả được tiền thì bà C phải chịu lãi suất với mức lãi suất là 1,6% mỗi tháng. Tuy nhiên hết thời hạn mười ngày nhưng bà C không trả nợ cho bà số tiền trên, mặc dù bà đã đòi nhiều lần. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C phải trả số tiền gốc đã vay là 43.800.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày vay với mức lãi suất 1,6% mỗi tháng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Tại phiên tòa bà L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án giài quyết buộc bà C phải trả số tiền gốc đã vay là 43.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 19/4/2024 với thời gian là 09 tháng 07 ngày với mức lãi suất 1,6 % mỗi tháng. Khoản này bằng 43.800.000₫ x 1,6 % x 09 tháng, 07 ngày = 6.470.720 đồng. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử yêu cầu bà C phải tiếp tục trả tiền lãi suất trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất 1,6 % mỗi tháng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Bị đơn là bà Bùi Thị C trình bày:

Trên thực tế thì tháng 02/2021 bà có vay của bà L số tiền 40.000.000 đồng, với mức lãi suất là 5.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 01 ngày, cứ 10 ngày bà trả lãi cho bà L một lần, bà đã trả đều đặn cho bà Liên từ ngày 14/01/2021 đến tháng 07/2023 ngoài ra bà còn trả cho bà L được 8.000.000 đồng tiền nợ gốc. Từ đầu tháng 7/2023 bà không trả lãi cho bà L được. Lúc đó bà L đã nhờ xã hội đen đến nhà bà ép bà viết giấy nợ cộng cả tiền gốc và lãi là 43.800.000 đồng, bà đã viết và ký vào giấy. Khi trả tiền cho bà L bà không lấy giấy tờ gì từ bà L mà bà L chỉ viết vào sổ của bà L. Bà không có giấy tờ gì về việc trả nợ lãi và gốc cho bà L mà bà L giữ hết giấy tờ.

Đến nay bà L yêu cầu bà trả tiền nợ gốc 43.800.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 12/7/2023 với mức lãi suất 1,6 % một tháng. Bà không đồng ý trả nữa vì từ tháng 02/2021 đến năm 2023 bà đã trả cho bà L rất nhiều tiền lãi vượt quá rất nhiều số tiền vay nên bà đề nghị không phải trả cho bà L tiền nữa.

3. Bản án dân sự sơ thẩm số16/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã Quyết định:

Căn cứ các Điều 357, 463; Khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

  1. Buộc bà Bùi Thị C phải trả cho bà Nguyễn Thị L tổng số tiền là 47.169.000₫ ( Bốn mươi bảy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Trong đó, tiền gốc là 43.800.000đ (Bốn mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là 3.369.000đ (Ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 19/4/2024), Bà C phải chịu tiền lãi trên số tiền gốc còn nợ với lãi suất là 0,833%/tháng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

  3. Về án phí: Bà Bùi Thị C phải chịu 2.358.450đ (Hai triệu ba trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng) tiền án phí DSST. Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.180.000đ (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí DSST mà bà L đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai thu tiền số: 0002233 ngày 18/01/2024. Bà L được trả lại số tiền chênh lệch là 880.000 đ (T trăm tám mươi nghìn đồng)

Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, Luật Thi hành án dân sự, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

4. Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 25/4/2024, Tòa án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của bà Bùi Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm với các nội dung: Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị làm rõ hành vi cho vay lãi nặng của bà Nguyễn Thị L.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Các nội dung kháng cáo của bị đơn không có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị C; Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà L.

[2]. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Bùi Thị C nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bà C đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3]. Xét nội kháng cáo của bà Bùi Thị C:

Xét thấy: Tại Giấy vay tiền ngày 12/7/2022 có nội dung: Bà Nguyễn Thị L cho bà Bùi Thị C vay số tiền 43.800.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng); Thời hạn vay là 10 ngày; Mục đích vay để trồng dứa; không ghi lãi suất. Bà C thừa nhận giấy vay này do bà viết, ký tên và điểm chỉ.

Bùi Thị C trình bày trước đó vào tháng 02/2021 bà vay bà L số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất cao sau đó do không trả được nợ nên bà L ép bà viết lại giấy vay nợ. Bà C đã trả cho bà L được số tiền 8.000.000 đồng tiền nợ gốc, khi trả nợ bà C không lấy giấy tờ gì. Tuy nhiên bà C không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc bà bị ép viết giấy vay nợ và đã trả được 8.000.000₫ tiền gốc cho bà L. Bà L cũng không thừa nhận việc này. Như vậy hợp đồng vay tài sản giữa các bên đã được xác lập bằng văn bản, là hợp đồng hợp pháp. Do đó việc bà L khởi kiện là có căn cứ, buộc bà Bùi Thị C phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền gốc đã vay là 43.800.000 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Về lãi suất: Tại giấy vay tiền không ghi lãi suất. Bà L trình bày hai bên thỏa thuận với nhau mức lãi suất là 1,6 %/tháng và yêu cầu bà C phải trả tiền lãi suất từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là 6.470.720 đồng, kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử yêu cầu tiếp tục trả tiền lãi theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong. Bà C trình bày hai bên thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/ 1.000.000 đồng/1 ngày, tuy nhiên bà C không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh lời khai của mình, bà L cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ thể hiện hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 1,6% mỗi tháng. Do đó xác định đây là trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ về lãi suất và đang có tranh chấp. Do đó căn cứ vào quy định của pháp luật chỉ chấp nhận một phần yêu cầu về lãi suất của nguyên đơn là buộc bà C phải trả cho bà L số tiền lãi suất với mức lãi suất bằng 50 % lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mức lãi suất được chấp nhận là 0,833 %/ 01 tháng tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Thời điểm tính tiền lãi được chấp nhận tính từ ngày vay (ngày 12/7/2023) đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là 09 tháng 07 ngày. Cụ thể: 43.800.000đ x 0,833 % x 09 tháng, 07 ngày = 3.368.818 đ (làm tròn số là 3.369.000 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ bà C còn phải tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền gốc chưa thanh toán đến khi trả nợ xong với mức lãi suất là 0,833 % mỗi tháng.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy nhận vay tiền ngày 12/7/2023 giữa bà L với bà C, buộc bà Bùi Thị C phải trả cho bà Nguyễn Thị L tổng số tiền là 47.169.000đ ( Bốn mươi bảy triệu một trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Trong đó, tiền gốc là 43.800.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là 3.369.000₫ (Ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ.

Về nội dung kháng cáo đề nghị làm rõ hành vi cho vay lãi nặng của bà Nguyễn Thị L, tránh bỏ lọt tội phạm hình sự: Yêu cầu này của bà C không liên quan đến tranh chấp dân sự trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị C.

[4]. Án phí phúc thẩm: Đương sự kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị C.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Căn cứ các Điều 357, 463; Khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bà Bùi Thị C phải trả cho bà Nguyễn Thị L tổng số tiền là 47.169.000₫ (Bốn mươi bảy triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Trong đó, tiền gốc là 43.800.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm nghìn đồng), tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là 3.369.000đ (Ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/4/2024), Bà C phải chịu tiền lãi trên số tiền gốc còn nợ với lãi suất là 0,833%/tháng cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

2. Về án phí: Bà Bùi Thị C phải chịu 2.358.450đ (Hai triệu ba trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng) tiền án phí DSST. Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.180.000đ (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí DSST mà bà L đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai thu tiền số: 0002233 ngày 18/01/2024. Bà L được trả lại số tiền chênh lệch là 880.000 đ (Tám trăm tám mươi nghìn đồng)

3. Án phí phúc thẩm: Bà Bùi Thị C phải nộp 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002303 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - P9-VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Thạch Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DSPT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 89/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger