TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024DS-ST
Ngày: 24-7-2024
V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Liêm;
- Ông Tô Ngọc Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 158/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 331/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1; địa chỉ trụ sở: số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu P – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh M (văn bản ủy quyền số 2664/QĐ-HĐTV-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N1 và Giấy ủy quyền số 131/UQ-NHNN.ML ngày 12/6/2024 của Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh M); địa chỉ liên hệ: Số A, đường N, khóm Thị 1, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, sinh năm 1968; địa chỉ: khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, sinh năm 1968; địa chỉ: khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1989; địa chỉ: khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Bùi Trung H1, sinh năm 2000; địa chỉ: khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Phạm Trường A, sinh năm 1998; địa chỉ: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; hiện nay tạm trú tại: số A đường C, khóm T4, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Thùy T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; hiện nay tạm trú tại: số A đường C, khóm T4, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E cùng chồng là ông Bùi Văn T1 với Ngân hàng N1 - Chi nhánh M (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) sau quá trình thỏa thuận đã ký Hợp đồng tín dụng số: 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021, theo đó Ngân hàng đã cho bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Bùi Văn T1 vay tổng số tiền là: 600.000.000 đồng, đã giải ngân ngày 16/3/2021, thời hạn cho vay 120 tháng, hạn trả cuối cùng: 15/3/2031, phân kỳ trả nợ 10 kỳ theo phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ đính kèm, lãi suất cho vay: 11(điều chỉnh thành 13%/năm kể từ ngày 17/12/2022 theo thông báo điều chỉnh lãi suất cho vay ngày 20/12/2022 của Ngân hàng), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, tính trên dư nợ gốc quá hạn, mục đích vay: Mua sắm vật dụng gia đình. Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E đã trả nợ gốc được cho Ngân hàng 120.000.000 đồng, dư nợ còn 480.000.000 đồng. Đến kỳ hạn đóng lãi ngày 18/12/2023, bà Thúy E đã không đóng lãi đầy đủ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, hiện khoản vay của bà E đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 18/12/2023.
Để bảo đảm khoản vay bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Bùi Văn T1 có ký hợp đồng thế chấp số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021 để thế chấp: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện tích xây dựng: 125,6 m², diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole.
Do không trả lãi vay nợ nên ngày 18/12/2023 khoản vay đã chuyển nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Bùi Văn
3
T1 phải trả nợ cho Ngân hàng N1 số tiền tạm tính đến hết ngày 18/03/2024 là: 511.456.438 đồng (năm trăm mười một triệu, bốn trăm năm mươi sáu ngàn, bốn trăm ba mươi tám đồng), trong đó: nợ gốc là 480.000.000 đồng, nợ lãi là 31.456.438 đồng. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Bùi Văn T1 phải tiếp tục trả lãi suất phát sinh theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6714-LAV-202100510 ngày 15/3/2021, kể từ 19/3/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền vay. Yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, ông Bùi Văn T1 với Ngân hàng N1 - Chi nhánh M để đảm bảo cho việc thi hành án.
Do bị đơn ông Bùi Văn T1 chết, ngày 09 tháng 5 năm 2024 Ngân hàng có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện với nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện (do ông Bùi Văn T1 đã chết trước khi nguyên đơn khởi kiện). Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T2 và các ông, bà là hàng thừa kế theo quy định pháp luật của ông Bùi Văn T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 465.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 18/03/2024 là 31.456.438 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 6714-LAV-202100510 ngày 15/3/2021 cho đến khi trả tất nợ vay cho ngân hàng trong phạm vi di sản người chết là ông Bùi Văn T1 để lại. Đồng thời tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với hợp đồng thuê nhà giữa bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Phạm Trường A, bà Võ Thị Thùy T Ngân hàng không có ý kiến.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 6714-LAV-202100510 ngày 15/3/2021 (bản sao); Hợp đồng thế chấp 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021 (bản sao) và các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E trình bày ý kiến: thống nhất với lời trình bày của đại diện hợp pháp của Ngân hàng, bà E và ông T1 là vợ chồng với nhau, trước đây bà và ông T1 có vay của Ngân hàng khoản vay như Ngân hàng trình bày. Khi ông T1 chết kinh tế gặp khó khăn nên bà không còn khả năng trả tiền cho Ngân hàng. Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E xác định cha mẹ ông T1 đã chết, giữa bà và ông T1 có tổng cộng 02 người con Bùi Thị Thúy H, Bùi Trung H1. Bà Nguyễn Thị Kim Thúy E đồng ý cùng các con trả tiền cho Ngân hàng. Để bảo đảm khoản vay, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E và ông Bùi Văn T1 có ký hợp đòng thế chấp số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021 để thế chấp: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện
4
tích xây dựng: 125,6 m², diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole. Nay đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án.
Hiện trạng nhà gắn liền với đất bà Nguyễn Thị Kim Thúy E đã cho ông Phạm Trường A, bà Võ Thị Thùy T thuê. Bà E không tranh chấp đối với hợp đồng thuê nhà đối với ông A, bà T, khi phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu sau.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Trường A, bà Võ Thị Thùy T trình bày: Ông A, bà T là người dân ở địa phương khác đến, do có nhu cầu thuê chỗ ở để thuận tiện cho việc làm ăn, thông qua giới thiệu, ông A, bà T có biết bà Nguyễn Thị Kim Thúy E có tài sản là căn nhà gắn với diện tích đất mà hiện nay ông A, bà T biết nhà và đất là tài sản bà Nguyễn Thị Kim Thúy E thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn, thuê với thời hạn là 03 năm, có lập hợp đồng thuê, theo đó ông A, bà T đã trả tiền trước 30.000.000 đồng và trả hàng tháng 5.000.000 đồng, đến nay ông A, bà T vẫn thực hiện đúng như hợp đồng thuê, khi thuê nhà ông A, bà T có cải tạo sửa chữa phù hợp với mục đích sử dụng, chi phí không nhớ rõ. Đến nay ông A, bà T xác định không nợ tiền thuê của bà E và bà E cũng không nợ tiền cọc cho thuê nhà với ông A, bà T. Sự việc tranh chấp giữa nguyên đơn bà bị đơn ông A bà T không có ý kiến và cũng không có tranh chấp gì trong vụ kiện này, nếu phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác. Yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, ngoài ra không còn ý kiến nào khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải, nhưng bà H, ông H1 vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến, thống nhất các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp là đúng; cung cấp bổ sung tài liệu bản tự khai, bảng kê tiền lãi chi tiết, yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 phải trả cho Ngân hàng N1 nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:
- - Nợ lãi tính đến hết ngày 24/7/2024: 53.715.823 (năm mươi ba triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, tám trăm hai mươi ba) đồng;
- - Nợ gốc: 455.000.000 (bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021 kể từ ngày 25/7/2024 cho đến khi thanh toán xong.
5
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 chỉ phải trả số tiền trên trong phạm vi di sản do ông Bùi Văn T1 để lại.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện tích xây dựng: 125,6 m², diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole để đảm bảo cho việc thi hành án.
Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 trả số tiền gốc 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi cho vay dưới hình thức hợp đồng tín dụng. Bị đơn hiện cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng. Do vậy, vụ án được xác định là tranh chấp về giao dịch dân sự về Hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E có đơn xin xét xử vụ mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, ông Phạm Trường
6
A, bà Võ Thị Thùy T có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng những người này vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Hữu P có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có ý kiến yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 phải trả cho Ngân hàng N1 nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:
- - Nợ lãi tính đến hết ngày 24/7/2024: 53.715.823 (năm mươi ba triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, tám trăm hai mươi ba) đồng;
- - Nợ gốc: 455.000.000 (bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021 kể từ ngày 25/7/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 chỉ phải trả số tiền trên trong phạm vi di sản do ông Bùi Văn T1 để lại.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện tích xây dựng: 125,6 m2, diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole để đảm bảo cho việc thi hành án.
Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 trả số tiền gốc 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
[2.1] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Giữa Ngân hàng và ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E đã xác lập Hợp đồng tín dụng 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, có lập thành văn bản, đã giải ngân đầy đủ, hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật; lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó, hợp đồng trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền,
7
nghĩa vụ của các bên. Sau khi ký kết hợp đồng, ông T1, bà E đã thực hiện trả được một phần tiền nợ vốn và lãi, nhưng sau đó ông T1, bà E không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo đúng thỏa thuận, không thực hiện thanh toán nợ gốc, lãi theo kỳ thanh toán là vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án bà E thừa nhận lời trình bày của ông P là đúng, tuy nhiên do ông T1 chết gia đình khó khăn về kinh tế nên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu bà E và các đồng thừa kế của ông T1 gồm: bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 có nghĩa vụ trả số tiền các khoản vay trên, tính đến ngày 24/7/2024, tổng số tiền 508.715.823 đồng và tính lãi suất phát sinh cho đến khi trả xong số tiền cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 phải trả cho Ngân hàng N1 nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021 và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số tiền vay. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông P đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu đối với số tiền gốc 25.000.000 đồng do bà E đã trả số tiền gốc, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện của đương sự căn cứ Điều 217, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện tích xây dựng: 125,6 m2, diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole. Xét hợp đồng thế chấp được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên được chấp nhận.
[2.3] Đối với hợp đồng thuê nhà giữa bà Nguyễn Thị Kim Thúy E với ông Phạm Trường A, bà Võ Thị Thùy T, do các bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
8
[3] Về án phí:
[3.1] Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà E, bà H, ông H1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 1.000.000 đồng nên bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà E, bà H, ông H1 có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền này.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 293, 299, 309, 310, 314, 317, 318, 319, 320, 323 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 26, 30, 35, 39, 147, 157, 158, 217, 227, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 trả số tiền gốc 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 phải trả cho Ngân hàng N1 nợ gốc và nợ lãi của khoản vay như sau:
- - Nợ lãi tính đến hết ngày 24/7/2024: 53.715.823 (năm mươi ba triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, tám trăm hai mươi ba) đồng;
- - Nợ gốc: 455.000.000 (bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín
9
dụng số 6714-LAV-202100510, ngày 15 tháng 3 năm 2021 kể từ ngày 25/7/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 chỉ phải trả số tiền trên trong phạm vi di sản do ông Bùi Văn T1 để lại.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 22/ML/HĐTC/2021, ngày 11/3/2021: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 543388, số vào sổ CH00118, diện tích: 233,2 m² tọa lạc khóm Thị 2, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 12/6/2013 cho ông Bùi Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, thửa đất số: 154; tờ bản đồ số: 6, đất ở tại đô thị. Nhà ở gắn liền với đất, diện tích xây dựng: 125,6 m2, diện tích sàn: 166 m², kết cấu: Khung BTCT, tường xây gạch, nền lót gạch ceramic, mái tole để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 phải chịu 24.348.633 đồng (hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 chỉ phải chịu số tiền án phí trong phạm vi di sản do ông Bùi Văn T1 để lại.
Ngân hàng N1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.229.000 (mười hai triệu, hai trăm hai mươi chín nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0015275 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
4. Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 có nghĩa vụ trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng N1 với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Thúy E, bà Bùi Thị Thúy H, ông Bùi Trung H1 chỉ phải trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trong phạm vi di sản do ông Bùi Văn T1 để lại.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
10
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
Phan Thị N Đặng Văn Tâm Nguyễn Thị Diễm T3
Bản án số 89/2024DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 89/2024DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
