Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 24/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế, bà Lê Thị Thơm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 06/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92B/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Đình Q, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 6/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Đình H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1938; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969, con: 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến ngày 05/4/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu C, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nghiêm Thị H1, sinh năm 1992; con: Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu S (đã chết ) và bà Nghiêm Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đào Thị Bích P1, sinh năm 1991; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

4. Họ và tên: Trần Thế T2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thế S1, sinh năm 1962 và bà Mẫn Thị T3, sinh năm 1965; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trịnh Thị T4, sinh năm 1991; Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

5. Họ và tên: Nguyễn Duy T5, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T6, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1959; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lê Thị L, sinh năm 1987; Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

6. Họ và tên: Nguyễn Quốc M, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc T8 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1932; Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ chín; Vợ: Đặng Thị L1, sinh năm 1977; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

7. Họ và tên: Đặng Đình T9, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình N1, sinh năm 1969 và bà Đặng Thị T10, sinh năm 1971; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nghiêm Thị T11, sinh năm 1992; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, Công an huyện Y phối hợp với Công an thị trấn Chờ, huyện Y tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tại nhà Đặng Đình Q có một số đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền ở 03 chiếu bạc, cụ thể như sau:

- Chiếu bạc thứ nhất gồm: Đặng Đình Q (chủ nhà); Nguyễn Hữu H2Nguyễn Hanh T12, cùng sinh năm 1989, đều trú tại thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn N2, sinh năm 1992 và Trần Đình C1, sinh năm 1993, đều trú tại thôn T, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tại chiếu bạc này thu giữ: 01 chiếu tre, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân cùng số tiền 4.575.000 đồng.

- Chiếu bạc thứ hai gồm: Đặng Đình T13, sinh năm 1997; Nguyễn Như B, sinh năm 1973; Đặng Đình Đ1, sinh năm 1992; Nguyễn Hữu T14, sinh năm 1988; Đặng Đình N1, sinh năm 1969; Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1992 và Nguyễn Đức T15, sinh năm 1988, đều trú tại: thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tại chiếu bạc này thu giữ 02 đệm màu xám, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 1.490.000 đồng.

- Chiếu bạc thứ ba gồm: Nguyễn Quốc M, sinh năm 1977; Nguyễn Duy T5, sinh năm 1983; Trần Thế T2, sinh năm 1987; Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1987; Nguyễn Hữu C, sinh năm 1991 và Đặng Đình T9, sinh năm 1992, đều trú tại: thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Tại chiếu bạc này thu giữ 01 ga trải giường màu đỏ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 5.110.000 đồng.

Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với: Đặng Đình Q về hành vi “gá bạc”; Nguyễn Quốc M, Nguyễn Duy T5, Trần Thế T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Hữu CĐặng Đình T9 về hành vi “đánh bạc”; niêm phong số tiền thu trên các chiếu bạc và đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở để điều tra, làm rõ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, các đối tượng khai nhận như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 10/3/2024, sau khi tổ chức liên hoan ăn uống tại nhà văn hóa của xóm ở thôn P, thị trấn C, Đặng Đình Q, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Hanh T12, Nguyễn Văn N2, Trần Đình C1, Đặng Đình T13, Nguyễn Như B, Đặng Đình Đ1, Nguyễn Hữu T14, Đặng Đình N1, Nguyễn Quốc H3, Nguyễn Đức T15, Nguyễn Quốc M, Nguyễn Duy T5, Trần Thế T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Hữu CĐặng Đình T9 rủ nhau về nhà Q để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng. Q lấy ở nhà 01 chiếu dạng chiếu tre, 02 đệm màu xám, 01 ga trải giường màu đỏ và 03 bộ bài tú lơ khơ 52 quân ra để mọi người cùng đánh bạc. Do đông người nên các đối tượng chia thành 03 chiếu bạc. Chiếu bạc thứ nhất gồm Q, H2, T12, N2C. Chiếu bạc thứ hai gồm T13, B, Đ1, T14, N1, H3T15. Chiếu bạc thứ ba gồm M, T5, T2, T1, CT9.

Về hình thức chơi và tỷ lệ ăn thua: Mỗi người đặt cửa số tiền 10.000 đồng và được chia 03 quân bài từ quân Át đến quân K. Sau khi lên bài, người đi đầu tiên có quyền tố thêm tiền, quy định tố tối thiểu là 10.000 đồng, tối đa là 50.000 đồng, người đi sau có thể theo hoặc không theo, nếu theo thì bỏ thêm tiền vào chiếu bằng số tiền người trước đã tố và có thể tố thêm tiền, nếu không theo thì úp bài xuống chiếu. Khi tất cả mọi người không ai tố thêm tiền nữa thì lật bài, ai cao điểm hơn thì thắng và được toàn bộ số tiền của những người khác đã đặt và tố theo. Mỗi quân bài từ Át đến 9 tính điểm như trên lá bài; các quân 10, J, Q, K tính là không điểm. Cộng điểm 03 quân bài lại, ai cao điểm hơn thì thắng. Nếu người chơi có 3 quân bài liên tiếp nhau (ví dụ 2-3-4, 9-10-J...) thì là liêng. Nếu người nào thắng theo dạng đồng hoa (tức là 3 quân bài liền kề đồng chất như 6-7-8, 10-J-Q) thì mỗi người chơi phải mất cho người thắng thêm 30.000 đồng. Nếu thắng theo dạng bài sáp (tức là 3 lá bài giống nhau như 3 quân 9-9-9, K) thì mỗi người chơi phải mất cho người thắng thêm 50.000 đồng. Cách tính điểm: điểm < liêng < sáp. Các đối tượng đánh bạc thống nhất nếu ai được sáp thì sẽ bỏ ra 50.000 đồng, ai được đồng hoa thì sẽ bỏ ra 30.000 đồng để cho Q mua nước uống, thuốc lá và dọn dẹp nhà cửa. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Các đối tượng đánh bạc được thua cụ thể như sau:

Đặng Đình Q bỏ ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, toàn bộ tiền đánh bạc của Q đang để ở dưới chiếu bạc, Q không nhớ đang thắng hay đang thua.

Nguyễn Hữu H2 bỏ ra số tiền 250.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, H2 thua hết số tiền trên.

Nguyễn Hanh T12 bỏ ra số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, T12 đã đánh thua 50.000 đồng, còn lại 250.000 đồng dưới chiếu bạc.

Nguyễn Hanh T12 bỏ ra số tiền 650.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, T12 đang thắng nhưng không rõ thắng bao nhiêu tiền. Toàn bộ tiền đánh bạc và thắng bạc T12 để trên chiếu bạc.

Trần Đình C1 vay của Nguyễn Văn N2 số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, C1 đang thua 250.000 đồng. Số tiền còn lại C1 để trên chiếu bạc.

Đặng Đình T13 bỏ ra số tiền 110.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, T13 đang thua 50.000 đồng. Số tiền còn lại T13 để trên chiếu bạc.

Nguyễn Như B bỏ ra số tiền 100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, B thua hết số tiền trên.

Đặng Đình Đ1 bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, Đ1 không nhớ rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền còn lại Đ1 để trên chiếu bạc.

Nguyễn Hữu T14 bỏ ra số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T14 đang thua còn khoảng 70.000 đồng. Số tiền trên Thăng để trên chiếu bạc.

Đặng Đình N1 bỏ ra số tiền hơn 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, Năm đang thắng 200.000 đồng. Số tiền trên Năm để trên chiếu bạc.

Nguyễn Quốc H3 bỏ ra số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, H3 đang thắng 300.000 đồng. Số tiền trên H3 để trên chiếu bạc.

Nguyễn Đức T15 bỏ ra số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T15 đang hòa, số tiền đánh bạc Thùy để trên chiếu bạc.

Nguyễn Hữu C bỏ ra số tiền 1.700.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, C không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền trên C để trên chiếu bạc.

Nguyễn Hữu T1 bỏ ra số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T1 không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền trên T1 để trên chiếu bạc.

Trần Thế T2 bỏ ra số tiền 570.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T2 không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền trên T2 để trên chiếu bạc.

Nguyễn Duy T5 bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T5 đã thua hết số tiền trên.

Nguyễn Quốc M bỏ ra số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, M vay 200.000 đồng của Trần Thế T2 để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, M không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền trên Mẫn để trên chiếu bạc.

Đặng Đình T9 bỏ ra số tiền 340.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T9 không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền trên T9 để trên chiếu bạc.

Tại bản Cáo trạng số: 94/CT-VKSYP, ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Đặng Đình Q về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu C, Nguyễn Hữu T1, Trần Thế T2, Nguyễn Duy T5, Nguyễn Quốc M, Đặng Đình T9 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Chung, T1, T2, T5, T9 đề nghị xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Các bị cáo Q, M xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh căn cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Q phạm tội “Gá bạc”

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu C, Nguyễn Hữu T1, Trần Thế T2, Nguyễn Duy T5, Nguyễn Quốc M, Đặng Đình T9 phạm tội “Đánh bạc”.

* Về điều luật áp dụng:

+ Áp dụng điểm b khoản 1,3 Điều 322; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đặng Đình Q từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bị cáo Q từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Đặng Đình Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu C từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu T1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

- Phạt tiền bị cáo Trần Thế T2 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

- Phạt tiền bị cáo Đặng Đình T9 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy T5 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quốc M từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung Ngân sách nước.

*Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung tiêu hủy: 03 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu dạng tre, 02 đệm màu xanh, 01 ga đệm.

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 11.175.000 đồng.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo Q, bị cáo M đề nghị xin được hưởng án treo. Bị cáo Chung, T1, T2, T5, T9 đề nghị xin được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về nội dụng: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, tại nhà của Đặng Đình Q ở thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Đặng Đình Q sử dụng nhà mình để cho Nguyễn Quốc M, Nguyễn Duy T5, Trần Thế T2, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Hữu C, Đặng Đình T9 đánh bạc thua ăn tiền bằng hình thức đánh “liêng” với tổng số tiền đánh bạc là 5.110.000 đồng. Hai chiếu bạc còn lại gồm Đặng Đình Q, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Hanh T12, Nguyễn Văn N2, Trần Đình C1, Nguyễn Như B, Đặng Đình Đ1, Nguyễn Hữu T14, Đặng Đình N1, Nguyễn Quốc H3Nguyễn Đức T15 tham gia đánh bạc nhưng tiền trên mỗi chiếu bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng đánh bạc đều chưa có tiền án, tiền sự.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Gá bạc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo M, T5, T2, T1, C1, T9 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra tội phạm đánh bạc còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản. Do vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

2. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đã khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm quốc tế sau ngày 30/4/1975 nên bị cáo Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Chung, T1, T2, T5, M, T9 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T9 có thời gian phục vụ quân đội, đã được xuất ngũ về địa phương. Bị cáo T5 có vợ là chị Lê Thị L được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh tặng thưởng Giấy khen. Bị cáo Chung tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đồng trước khi xét xử tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong, bị cáo T1 tự nguyện nộp số tiền 20.200.000 đồng trước khi xét xử, bị cáo T2 tự nguyện nộp số tiền 200.000 đồng trước khi xét xử tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Do vậy các bị cáo T1, C1, T1, T5, T2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo Q đã cho các bị cáo Chung, T1, T2, M, T5, T9 đánh bạc tại nhà mình. Các bị cáo cùng nhau thực hiện thực hiện hành vi “Đánh bạc” với hình thức được thua bằng tiền, có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Đối với bị cáo Đặng Đình Q là người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, do vậy không cần thiết phải buộc bị cáo Q phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Q.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu C, Nguyễn Hữu T1, Trần Thế T2, Nguyễn Duy T5, Nguyễn Quốc M, Đặng Đình T9 là người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Chung, T1, T2, T5, T9, M mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Đối với: 03 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu dạng tre, 02 đệm màu xanh, 01 ga đệm là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 11.175.000 đồng là tiền thu giữ trên các chiếu bạc, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

5. Những vấn đề khác:

Liên quan trong vụ án có Trần Đình C1, Nguyễn Đức T15, Nguyễn Hanh T12, Nguyễn Hữu T14, Đặng Đình T13, Nguyễn Văn N2, Đặng Đình N1, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Quốc H3, Đặng Đình Đ1, Nguyễn Như B, Đặng Đình Q là những người tham gia đánh bạc tại nhà Q. Tuy nhiên, tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng đều chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của các đối tượng trên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” bằng hình thức phạt tiền đối với các đối tượng trên là phù hợp.

6. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Q phạm tội “Gá bạc”

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu C, Nguyễn Hữu T1, Trần Thế T2, Nguyễn Duy T5, Nguyễn Quốc M, Đặng Đình T16 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đặng Đình Q 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bị cáo Q 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

+ Giao các bị cáo Đặng Đình Q cho Ủy ban nhân thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu C 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu T1 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.

- Phạt tiền bị cáo Trần Thế T2 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.

- Phạt tiền bị cáo Đặng Đình T9 20.000.000 đồng Ngân sách nhà nước.

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Duy T5 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quốc M 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung tiêu hủy: 03 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu dạng tre, 02 đệm màu xanh, 01 ga đệm.

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 11.175.000 đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong; Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 06/5/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Đặng Đình Q, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Hữu T1, Trần Thế T2, Nguyễn Duy T5, Nguyễn Quốc M, Đặng Đình T9 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Hữu C đã nộp nộp số tiền là 20.000.000 đồng tại biên lai số: 01890 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Bị cáo Chung còn phải nộp số tiền 200.000 đồng

Xác nhận bị cáo Nguyễn Hữu T1 đã nộp nộp số tiền là 20.200.000 đồng tại biên lai số: 01894 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Xác nhận bị cáo Trần Thế T2 đã nộp nộp số tiền là 200.000 đồng tại biên lai số: 018888 ngày 20/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Bị cáo T2 còn phải nộp số tiền 20.000.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TÒA

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

N3

Nguyễn Ngọc T17

Nguyễn Ngọc Tuấn

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tội gá bạc và tội đánh bạc

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Gá bạc và Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Đình Quyết - Đánh bạc, gá bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger