Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vinh

2. Ông Lương Anh Dũng

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Đỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì và trại tạm giam số 1, công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLST-HSST ngày 25 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Ngọc L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977; tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A xã Đ, T, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Ngọc L1 (sinh năm: 1946 – đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T (sinh năm: 1950); Gia đình có 04 anh em, bị can là con thứ ba. Họ và tên vợ: Đỗ Thị T1 (sinh năm: 1976); Có 01 con sinh năm 1999;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 26/03/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù giam về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án sơ thẩm số 203/2003/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/07/2008 (đã xóa án tích).
  • Ngày 24/09/2010, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm L2 đến ngày 24/09/2012 trở về địa phương.
  • Ngày 02/07/2013, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm L2 đến ngày 02/07/2015 trở về địa phương.

D chỉ bản số 86 do Công an huyện T lập ngày 25/01/2024

Bị can bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an T, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Lê Ngọc L điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS: 34P5-5112 đi đến xóm B thôn C xã V, T, Hà Nội để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng. L cầm gói ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô Honda Wave A, BKS: 34P5-5112 đi tìm nơi sử dụng ma túy.

Hồi 10 giờ 55 phút ngày 19/01/2024, tổ công tác Công an xã V – Công an huyện T làm nhiệm vụ tuần tra kiếm soát tại khu vực ngõ X thôn C V, T, Hà Nội phát hiện Lê Ngọc L đang điều khiến xe mô tô Honda Wave A, BKS: 34P5-5112 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Phát hiện tổ công tác kiểm tra L liền thả 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa heroin đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống đất ngay cạnh chân L thì bị tổ công tác phát hiện và yêu cầu L nhặt gói giấy lên nhưng L không khai nhận gói giấy là của L nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản, niêm phong thu giữ tang vật và đưa L về trụ sở giải quyết. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 34P5-5112 màu đỏ.

Hồi 09 giờ ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Ngọc L tại thôn A xã Đ, huyện T, Hà Nội nhưng không thu giữ gì.

Tại Cơ quan Công an, các lời khai ban đầu Lê Ngọc L không khai nhận hành vi của mình và không hợp tác trong việc xét nghiệm ma túy trong nước tiểu nên Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy mẫu và trưng cầu xét nghiệm ma túy thông qua xét nghiệm máu của L.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm của K xét nghiệm độc học – V đã kết luận:

mẫu máu gửi xét nghiệm của Lê Ngọc L không phát hiện thấy các chất ma túy tự nhiên (M, H, 6MAM, C, C).

Ngày 19/01/2024, Cơ quan Điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng thu giữ tại hiện trường khi kiểm tra hành chính.

Tại Bản kết luận giám định số 952 ngày 26/01/2024 của Phòng PC09-Công an thành phố H đã kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,130 gam"

Cơ quan giám định đã sử dụng 0,040 gam Heroine trong tổng số 0,130 gam để làm mẫu giám định, còn lại 0,090 gam Heroine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T

Đến ngày 29/01/2024, Lê Ngọc L thay đổi lời khai và khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên. L khai khi bị Tổ công tác Công an xã V, do sợ hãi và lên cơn nghiện nên L đã thả gói ma túy đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống dưới đất và không thừa nhận gói ma túy là của mình. Lời khai nhận tội của L phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập được.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, do L không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên CQĐT không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu đỏ, BKS: 34P5-5112 (SM: HC12E-1362454, SK: RLHHC42109Y161548) không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. L khai mua xe của người không quen biết và sử dụng xe đi mua ma túy nên cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 USB bên trong chứa video hình ảnh liên quan đến vụ việc là vật chứng của vụ án cần được lưu giữ trong hồ sơ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSTT ngày 25/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Lê Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai: bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Lê Ngọc L mức án từ 16 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 19/01/2024. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung công 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu đỏ, BKS: 34P5-5112 (SM: HC12E-1362454, SK: RLHHC42109Y161548).

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng; Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 10 giờ 55 phút ngày 19/01/2024 tại khu vực xóm B thôn C xã V, T, Hà Nội, khi Lê Ngọc L đang tàng trữ 01 gói giấy màu trắng chứa ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,130 gam với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã V – Công an huyện T đang làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ tang vật.

Hành vi của bị cáo Lê Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội, được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Bị cáo đã từng bị xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đã 2 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần được giáo dục pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều này chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
  • Đối với 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu đỏ, BKS: 34P5-5112 (SM: HC12E-1362454, SK: RLHHC42109Y161548), bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên cần tịch thu sung công.

Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Mai Xuân Đ, người chứng kiến Nguyễn Văn B và Nguyễn Ngọc H1 (theo quyết định chuyển vật chứng số 76 ngày 25 tháng 4 năm 2024 bên trong có 0,090 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Mai Xuân Đ, người chứng kiến Nguyễn Văn B và Nguyễn Ngọc H1 (theo quyết định chuyển vật chứng số 76 ngày 25 tháng 4 năm 2024 bên trong 01 mảnh giấy).
  • Tịch thu sung công đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đỏ mang BKS 34P5-5112, SM:HC12E-1362454, SK: RLHHC42109Y161548, không kiểm tra chất lượng xe, xe không có yếm;

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

5. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - CA huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger