|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v “Ly hôn giữa bà G và ông Đ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin;
- Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1383/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc G, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà G, ông Đ có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Ngọc G trình bày tóm tắt như sau:
Do quen biết và được hai bên gia đình đồng ý nên vào năm 2020 bà và ông Nguyễn Minh Đ đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/7/2020. Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 10/10/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay bà G xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà G yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ. Về con chung, khi ly hôn bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Ngọc G xác định vợ chồng không tranh chấp tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 04/4/2024 bị đơn ông Nguyễn Minh Đ trình bày tóm tắt như sau: Ông Đ thống nhất với ý kiến trình bày của bà G về thời gian quen biết, điều kiện kết hôn, con chung và tình trạng hôn nhân như bà G trình bày. Nay bà G xin ly hôn thì ông đồng ý. Về con chung thì ông Đ cũng thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 10/10/2021. Khi ly hôn ông cũng đồng ý giao cháu P cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Nguyễn Minh Đ theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Đ biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà G nhưng ông Đ không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bà Lê Ngọc G và ông Nguyễn Minh Đ bận việc nên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Ngọc G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án: Bà Lê Ngọc G và ông Nguyễn Minh Đ bận đi làm và có đơn đề nghị xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc G và ông Nguyễn Minh Đ có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13-7-2020 (Giấy đăng ký số 117/2020) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Ngọc G và ông Nguyễn Minh Đ là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Ngọc G đối với ông Nguyễn Minh Đ, thấy rằng: Bà G trình bày cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm. Bà G nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Đ. Xét ý kiến của ông Đ đối với yêu cầu ly hôn của bà G thì ông Đ cũng đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh Đ xin vắng mặt, chứng tỏ ông Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà G. Xét thấy, hai bên hiện đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Ngọc G.
[2.3] Về nuôi con chung: Bà G xác định có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 10/10/2021. Xét thấy, cháu P dưới 36 tháng tuổi và hiện đang do bà G chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu, nên căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Nguyễn Minh P cho bà Lê Ngọc G trực tiếp nuôi dưỡng sau khi bà G và ông Đ ly hôn.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà G không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp với các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét.
[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà G và ông Đ xác định không tranh chấp tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn bà Lê Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc G về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Minh Đ.
- Về hôn nhân: Bà Lê Ngọc G được ly hôn với ông Nguyễn Minh Đ.
- Về quyền nuôi con chung: Bà Lê Ngọc G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 10/10/2021.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà G không có yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà G và ông Đ xác định không tranh chấp tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005603 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Bà Lê Ngọc G đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Thắm |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc G ly hôn Nguyễn Minh Đ
