Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 23-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan- Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án - Trụ sở TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Đình T

Nơi cư trú: Khu dân cư S T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương: Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Đình T1 (đã chết) và bà Tô Thị L, có vợ Nguyễn Thị T2, có 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: chưa

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty cổ phần H2. Địa chỉ:Tầng A, tòa nhà M, số C L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện: Ông Trương Công T3- Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Công H -Đại diện tổ chức. Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Văn S, sinh năm 1975- Trưởng bộ phận bảo vệ thương hiệu- Địa chỉ: A N, Ấp E, xã P, huyện N. TP .. Ông S có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Ngô Thị Y, sinh năm 1987. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình T4 có giấy phép đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể, ngành nghề đăng ký kinh doanh: Sản xuất mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh, kinh doanh nước giặt (theo giấy chứng nhận số 04B8007629, đăng ký lần đầu năm 2023 của Phòng TCKH-UBND thành phố C), địa điểm kinh doanh được T4 thuê của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970 ở khu dân cư S T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Khoảng tháng 10/2023, Nguyễn Đình T4 thấy trên thị trường sản phẩm “NƯỚC GIẶT XẢ CAO CẤP 8 TRONG 1 CHANTÉ EN ROSE” (viết tắt là Chanté) của Công ty Cổ phần H3, địa chỉ: số B L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Trương Công T3 và ông Danny L1, Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0302017440 ngày 31/5/2000, được công bố tiêu chuẩn cơ sở theo Quyết định số 06/2023/QĐ-MSC ngày 25/4/2023, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Cục sở hữu trí tuệ ngày 22/3/2023) được người tiêu dùng mua với số lượng lớn nên đã nảy sinh ý định sản xuất các can nước giặt xả giả để bán để kiếm lời. Để sản xuất được hàng nước giặt xả giả của công ty Cổ phần H3, Nguyễn Đình T4 đặt mua các loại hóa chất của công ty TNHH MTV D, địa chỉ Thôn V, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. T4 tìm hiểu trên mạng Intenet để lấy mẫu can nước giặt “Chantẻ” và liên hệ với một người không rõ nhân thân, lý lịch đặt làm can theo mẫu. Tem nhãn để dán lên các can nước giặt, T4 tải ở trên mạng của cửa hàng W quảng cáo về sản phẩm sau đó liên hệ và gửi cho anh Vũ Văn N, sinh năm 1997 trú tại đội D, thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên để bảo N in theo hình dạng, mẫu, kích thước tem nhãn của sản phẩm nước giặt “Chante”. T4 bảo anh N sửa thông tin trên tem tại mục “Sản xuất bởi” thành tên Công ty cổ phần S1 và Công ty cổ phần S2 (là tên công ty do T4 tự nghĩ ra, không có thật); tại mục địa chỉ ghi “N, Ninh Bình” để người tiêu dùng tin tưởng mua hàng và không biết địa chỉ thật của T4. T4 đặt N in khoảng 400 cặp tem nhãn ghi Sản xuất bởi “Công ty cổ phần S3” và 600 cặp tem nhãn ghi Sản xuất bởi “Công ty cổ phần S2”. Sau đó, anh N đặt in các tem nhãn theo yêu cầu của một người không rõ nhân thân lý lịch rồi gửi về địa chỉ của T4. Sau khi đặt mua đầy đủ các nguyên liệu, vật tư T4 sử dụng các máy móc, thiết bị lắp đặt tại xưởng của T4 trước đó để sản xuất nước giặt giả. T4 cho các loại hóa chất mua về trộn theo tỷ lệ nhất định cùng với nước (công thức T4 tự học trên mạng Internet) vào 02 bồn chứa bằng inox có gắn máy khuấy để khuấy đều trong thời gian 4 tiếng để tạo ra dung dịch dạng sệt màu hồng sau đó dung dịch được bơm từ bốn khuấy sang 04 bồn chứa (01 bồn màu xanh loại 500 lít, 01 bồn bằng thùng phi màu xanh loại 200 lít, 02 bồn màu trắng loại 1000 lít), các bồn được kết nối với giàn chiết bằng inox có các vòi khóa để chiết các dung dịch. T4 đã thuê và chỉ đạo các công nhân thực hiện việc chiết nước giặt từ bồn chứa vào các can, dán tem nhãn lên can, đóng gói và tập kết tại kho.

Sau khi sản xuất được nước giặt xả giả “Chantẻ” của công ty cổ phần H3, T4 đã đăng hình ảnh sản phẩm nước giặt “Chante” (hình ảnh thật do T4 lấy trên mạng) trên ứng dụng Facebook, tại fanpage do T4 lập ra có tên “Nước giặt xả Chanté Cao cấp 8 trong 1” để bán nước giặt giả với giá 49.000 đồng/01 can. Khi có người nhắn tin, đặt mua hàng T4 yêu cầu cung cấp số điện thoại, địa chỉ để gửi nước giặt xả giả cho khách hàng. Để chuyển sản phẩm nước giặt xả giả đến người mua hàng, T4 ký hợp đồng vận chuyển, giao hàng và thu tiền hộ với Trung tâm K, Chi Nhánh tổng công ty B- Bưu điện thành phố H. Sau đó do không thuê được công nhân nên T4 đã nhờ chị Ngô Thị Y, sinh năm 1987 trú tại Đ, xã S, huyện Đ, thành phố Hà Nội là giám đốc Bưu cục T5 trực thuộc Trung tâm K cho nhân viên dán tem nhãn vào các can nước giặt. T4 đã gửi 84 thùng (mỗi thùng chứa 04 can nước giặt, xả) và tem nhãn do T4 đặt in cho chị Y để nhân viên Bưu cục Tân Đức dán tem nhãn lên sản phẩm, sau đó tập trung tại kho của Bưu cục.

Trong thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 11/12/2023, T4 đã sản xuất được 928 can nước giặt xả giả loại “NƯỚC GIẶT XẢ CAO CẤP 8 TRONG 1 CHANTÉ EN ROSE”, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng, khối lượng tịnh 3,4kg, thể tích 3,3 lít của công ty Cổ phần H3 đang phân phối trên thị trường. Sau khi T4 đăng bán trên facebook thì có 146 khách hàng đặt mua hàng với tổng số 584 can nước giặt, khi T4 gửi hàng qua bưu điện thì đều bị khách hàng trả lại với lý do hàng kém chất lượng, không giống quảng cáo... Ngày 11/12/2023, tại kho của Phạm Đình T, B1 lại 584 can nước giặt bị hoàn lại do khách hàng từ chối nhận cho T thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 02 thùng nhựa màu trắng, hình vuông, có gắn với ống dẫn bằng nhựa có giá đỡ và van khóa; 01 bình Inox loại 2000 lít; 01 bình Inox loại 1000 lít; 03 thùng nhựa: 02 thùng nhựa màu xanh và 01 thùng nhựa màu trắng, hình tròn; 02 thùng phi màu xanh, chữ màu vàng "ALKYL SULPHONIC ACIDS LIQUID"; 03 bao dứa chứa hóa chất màu vàng, nhãn màu trắng có chữ "SODIUM LAURY SULPHATE"; 02 túi hóa chất: 01 túi màu vàng và 01 túi màu hồng; 06 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, có chữ "TRS REFINED SALF"; 01 can chứa hóa chất màu tím, có chữ "perfume compound cotton fleur ecw12020"; 03 can chứa hóa chất màu xanh, có chữ "PREVENTOL D7"; 01 can chứa hóa chất màu tím có chữ “PERFUME COMPOUND LEMON CE 19D4656"; 02 thùng phi màu xanh chứa dung dịch dạng sệt; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng trên bao bì có chữ "CAUSTIC SODA FLAKES" 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng có chữ "HPMC" ; 500 vỏ can bằng nhựa màu hồng, không có dán tem nhãn; 01 bao dứa: Chứa nắp can bằng nhựa màu trắng; 1200 tấm bìa cát tông dùng để ghép thành các thùng cát tông đựng các can nước giặt; 201 thùng cát tông chứa các can nước giặt màu hồng bên ngoài không dán tem nhãn mác; 120 can nhựa can màu loại 10 lít chứa dung dịch màu hồng; 146 thùng cát tông niêm phong, bên trong có chứa 584 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, sản xuất tại: Công ty Cổ phần S2, địa chỉ: N, Ninh Bình. Trung tâm K, địa chỉ: Lô B, KCN Q, huyện M, thành phố Hà Nội tự nguyện giao nộp: 170 cái tem nhãn mác Chanté được niêm phong trong 01 thùng cát tông; 86 thùng cát tông niêm phong bên trong có chứa 344 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, sản xuất tại: Công ty Cổ phần S1, địa chỉ: N, Ninh Bình; Phạm Đình T tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung S20 FE màu xanh, imei 1: 355728261826686, imei 2: 356203781826680, lắp sim số: 0973 713 610.

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thành phố C tiến hành làm việc với Công ty Cổ phần H3 thu giữ 02 “NƯỚC GIẶT XẢ CAO CẤP 8 TRONG 1 CHANTÉ EN ROSE” (ký hiệu S1, S2 ); Tiến hành lấy mẫu giám định đối với số can nước giặt xả Chanté trong số vật chứng đã thu giữ cụ thể: Tiến hành lấy ngẫu nhiên 4 thùng cát tông (mỗi thùng chứa 4 can nước giặt) trong số 146 thùng cát tông, đánh số A1 đến A4, lấy ngẫu nhiên 20 can nước giặt trong số 142 thùng cát tông còn lại đánh số từ 1 đến 20, được niêm phong trong thùng ký hiệu M1. Trong số 86 thùng cát tông do Trung tâm K giao nộp lấy ngẫu nhiên 02 thùng cát tông, niêm phong ký hiệu M2, lấy ngẫu nhiên 12 can nước giặt từ 84 thùng cát tông còn lại, đánh số từ 01 đến 12, niêm phong ghi M2. Tại bản kết luận giám định số: 1219/KL-KTHS, ngày 27/02/2024 của V Bộ C kết luận:

Mẫu chất lỏng trong 36 can ghi nước giặt xả cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose Hương hoa H4, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng, khối lượng tịnh 3,4 kg (3,3 L) ký hiệu M1 gửi giám định đều không cùng loại với mẫu nước giặt xả cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose Hương hoa H4, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng, khối lượng tịnh 3,4 kg (3,3 L), ký hiệu S1 do Công ty Cổ phần H2 cung cấp làm mẫu so sánh.

Mẫu chất lỏng trong 20 can ghi nước giặt xả cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose Hương hoa H4, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng, khối lượng tịnh 3,4 kg (3,3 L) ký hiệu M2 gửi giám định đều không cùng loại với mẫu nước giặt xả cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose Hương hoa H4, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng, khối lượng tịnh 3,4 kg (3,3 L), ký hiệu S2 do Công ty Cổ phần H2 cung cấp làm mẫu so sánh.

Mẫu giám định đã sử dụng hết, không hoàn lại. Tại Bản kết luận giám định số: 1224/KL-KTHS, ngày 23/02/2024 của V- Bộ C kết luận:

Các lớp in trên các nhãn dán nước giặt xả Chanté cần giám định ký hiệu từ A1 đến A56 so với các lớp in trên các nhãn dán nước giặt xả Chanté mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không cùng các bản in tương ứng in ra. Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KLĐG, ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C kết luận:

928 can nước giặt cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose, hương hoa hồng pháp, loại can nhựa màu hồng, nắp màu trắng có khối lượng tịnh 3,4kg, thể tích 3.3 lít do công ty Cổ phần H2 phân phối có giá trị là 184.672.000 đồng. Tổng giá trị tại thời điểm ngày 11/12/2023 là: 184.672.000 đồng.

Bị can Phạm Đình T nhận thức và biết rõ hành vi sản xuất hàng giả vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích lợi ích cá nhân nên bị can đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra, bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị can chưa bán được sản phẩm nước giặt giả ra thị trường, gây thiệt hại không lớn, có anh trai là liệt sĩ là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự; Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Đối với 02 thùng nhựa màu trắng, hình vuông, có gắn với ống dẫn bằng nhựa có giá đỡ và van khóa; 01 bình Inox loại 2000 lít; 01 bình Inox loại 1000 lít; 03 thùng nhựa: 02 thùng nhựa màu xanh và 01 thùng nhựa màu trắng, hình tròn; 02 thùng phi màu xanh, chữ màu vàng "ALKYL SULPHONIC ACIDS LIQUID"; 03 bao dứa chứa hóa chất màu vàng, nhãn màu trắng có chữ "SODIUM LAURY SULPHATE"; 02 túi hóa chất: 01 túi màu vàng và 01 túi màu hồng; 06 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, có chữ "TRS REFINED SALF"; 01 can chứa hóa chất màu tím, có chữ "perfume compound cotton fleur ecw12020"; 03 can chứa hóa chất màu xanh, có chữ "PREVENTOL D7"; 01 can chứa hóa chất màu tím có chữ “PERFUME COMPOUND LEMON C E 19D4656"; 02 thùng phi màu xanh chứa dung dịch dạng sệt; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng trên bao bì có chữ "CAUSTIC SODA FLAKES" 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng có chữ "HPMC"; 500 vỏ can bằng nhựa màu hồng, không có dán tem nhãn; 01 bao dứa: Chứa nắp can bằng nhựa màu trắng; 1200 tấm bìa cát tông dùng để ghép thành các thùng cát tông đựng các can nước giặt; 201 thùng cát tông chứa các can nước giặt màu hồng bên ngoài không dán tem nhãn mác; 120 can nhựa can màu loại 10 lít chứa dung dịch màu hồng; 146 thùng cát tông niêm phong, bên trong có chứa 584 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, sản xuất tại: Công ty Cổ phần S2, địa chỉ: N, Ninh Bình; 170 cái tem nhãn mác Chanté được niêm phong trong 01 thùng cát tông; 86 thùng cát tông niêm phong bên trong có chứa 344 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, sản xuất tại: Công ty Cổ phần S1, địa chỉ: N, Ninh Bình; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung S20 FE màu xanh, imei 1: 355728261826686, imei 2: 356203781826680, lắp sim số: 0973 713 610 hiện đang được Cơ quan CSĐT Công an thành phố C quản lý tại kho vật chứng chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Văn S (Đại diện ủy quyền của Công ty cổ phần H2) xác định: hành vi sản xuất 928 can nước giặt xả cao cấp 8 trong 1 Chanté en rose, hương hoa hồng pháp giả của Công ty Cổ phần H2 đang phân phối trên thị trường của Phạm Đình T chưa gây thiệt hại (kinh tế, hình ảnh, uy tín) cho Công ty nên Công ty không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với Phạm Đình T.

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKS-CL ngày 29/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Đình T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xác định Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại xin vắng mặt có quan điểm đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”.

Về điều luật: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 192; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 33 tháng tù cho hưởng án treo đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đối với các loại hóa chất, vỏ can, tem mác dùng vào việc sản xuất hàng giả, không còn giá trị sử dụng, là hàng giả cần tịch thu cho tiêu hủy: 01 sim số seri 8984048000913121832; 03 bao dứa chứa hóa chất màu vàng, nhãn màu trắng có chữ “SODIUM LAURY SULPHATE”; 01 túi hóa chất màu vàng; 01 túi hóa chất màu hồng; 06 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, có chữ “ TRS REFINED SALT”- trong đó có 01 bao đã qua sử dụng; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, trên bao bì có chữ CAUSTIC SODA FLAKES - trong đó 01 bao đã qua sử dụng; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng có chữ HPMC - trong đó 01 bao đã qua sử dụng; 170 cái tem nhãn mác Chanté: 548 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté có hình hoa hồng sản xuất tại công ty cổ phần S2, địa chỉ N, Ninh Bình; 324 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, có hình cô gái, sản xuất tại Công ty cổ phần S1, địa chỉ N, Ninh Bình; 804 can nước giặt màu hồng không dán tem nhãn mác và tịch thu tiêu hủy toàn bộ số hóa chất, dung dịch, nước giặt trong các thùng phi, can nhựa.

Đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước: 01 bình Inox loại 2000 lít, đã qua sử dụng; 01 bình Inox loại 1000 lít, đã qua sử dụng; 02 thùng nhựa màu trắng, hình vuông có gắn với ống dẫn bằng nhựa có giá đỡ và van khóa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu xanh, hình tròn có gắn hai van nhựa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu xanh, hình tròn có gắn một van nhựa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu trắng hình tròn đã qua sử dụng; 02 thùng phi màu xanh, chữ màu vàng “ALKYL SULPHONIC ACIDS LIQUID” bên trong chứa dung dịch dạng sệt; 01 can chứa hóa chất màu tím, có chữ perfume compound cotton fleur ecw12020; 03 can chứa hóa chất màu xanh, có chữ PREVENTOL D7- trong đó có 01 can đã qua sử dụng; 01 can chứa hóa chất màu tím có chữ PERFUME COMPOUND LEMON CE 19 D4656 đã qua sử dụng; 02 thùng phi màu xanh chứa dung dịch dạng sệt- trong đó 01 thùng phi đã qua sử dụng; 500 vỏ can bằng nhựa màu hồng không có dán tem nhãn; 01 bao dứa chứa nắp can bằng nhựa màu trắng; 120 can nhựa màu trắng loại 10 lít chứa dung dịch màu hồng; 1200 bìa hộp cát tông; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung S20 FE màu xanh, imei 1: 355728261826686, imei 2: 356203781826680;

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, hoàn cảnh khó khăn, mong Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 11/12/2023 tại kho của Phạm Đình Tkhu dân cư S T, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Phạm Đình T với cách thức tự mua can, tem mác, hóa chất, nguyên vật liệu tự sản xuất được 928 can nước giặt xả giả loại “NƯỚC GIẶT XẢ CAO CẤP 8 TRONG 1 CHANTÉ EN ROSE” của Công ty Cổ phần H3. Mục đích T bán kiếm lời: T đã thông qua Trung tâm K, Chi Nhánh tổng công ty B- Bưu điện thành phố H giao bán ra thị trường 584 can nước giặt xả giả nhưng đều bị khách hàng trả lại. Ngày 11/12/2023, khi nhân viên Trung tâm K đang trả lại T 584 can nước giặt xả giả thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra phát hiện, thu giữ toàn bộ 928 can nước giặt xả giả và thiết bị liên quan. Hàng Thắng làm giả tương đương với giá hàng thật của Cổ ty phần hàng tiêu dùng Massan là 184.672.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo điểm đ khoản 2 điều 192 Bộ luật hình sự, vì vậy Cáo trạng của VKSND thành phố Chí Linh truy tố bị cáo là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế do nhà nước quản lý, làm mất sự ổn định của thị trường hàng hóa, xâm hại đến lợi ích, sức khỏe của người tiêu dùng là hành vi giả mạo về sở hữu trí tuệ theo Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ. Bị cáo là người trưởng thành, đủ trình độ hiểu biết việc sản xuất, buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu của tổ chức kinh doanh khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình đã gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo có anh trai là liệt sỹ; bị cáo tích cực ủng hộ hộ nghèo tại địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh hết sức khó khăn. Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, như vậy cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là các loại hóa chất, vỏ can, tem mác dùng vào việc sản xuất hàng giả không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với vật chứng là các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng cần thịch thu, phát mại để sung quỹ nhà nước. Đối với điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước và tịch thu cho tiêu hủy 01 sim điện thoại đã sử dụng là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về những vấn đề khác: Đối với các công nhân làm thuê cho T và những người trong gia đình T, Trung tâm K đơn vị vận chuyển giao hàng cho T (theo hợp đồng); chị Ngô Thị Y và các nhân viên dán tem nhãn hộ T không biết việc T sản xuất nước giặt giả mà chỉ làm theo sự chỉ đạo của T, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với các Công ty, cá nhân mà T đã mua các loại hóa chất, đặt in tem nhãn dán trên các can nước giặt khi bán hàng cho T không biết mục đích T đặt mua để phục vụ việc sản xuất nước giặt giả, người bán vỏ can cho T, không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Vụ án không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Do Tòa án áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 192; Điều 50, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; điểm d khoản 1 Điều 125; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả".

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đình T cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước: 01 bình Inox loại 2000 lít, đã qua sử dụng; 01 bình Inox loại 1000 lít, đã qua sử dụng; 02 thùng nhựa màu trắng, hình vuông có gắn với ống dẫn bằng nhựa có giá đỡ và van khóa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu xanh, hình tròn có gắn hai van nhựa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu xanh, hình tròn có gắn một van nhựa đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu trắng hình tròn đã qua sử dụng; 02 thùng phi màu xanh, chữ màu vàng “ALKYL SULPHONIC ACIDS LIQUID” bên trong chứa dung dịch dạng sệt; 01 can chứa hóa chất màu tím, có chữ perfume compound cotton fleur ecw12020; 03 can chứa hóa chất màu xanh, có chữ PREVENTOL D7- trong đó có 01 can đã qua sử dụng; 01 can chứa hóa chất màu tím có chữ PERFUME COMPOUND LEMON CE 19 D4656 đã qua sử dụng; 02 thùng phi màu xanh chứa dung dịch dạng sệt- trong đó 01 thùng phi đã qua sử dụng; 500 vỏ can bằng nhựa màu hồng không có dán tem nhãn; 01 bao dứa chứa nắp can bằng nhựa màu trắng; 120 can nhựa màu trắng loại 10 lít chứa dung dịch màu hồng; 1200 bìa hộp cát tông; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung S20 FE màu xanh, imei 1: 355728261826686, imei 2: 356203781826680;

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 sim số seri 8984048000913121832; 03 bao dứa chứa hóa chất màu vàng, nhãn màu trắng có chữ “SODIUM LAURY SULPHATE”; 01 túi hóa chất màu vàng; 01 túi hóa chất màu hồng; 06 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, có chữ “ TRS REFINED SALT”- trong đó có 01 bao đã qua sử dụng; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng, trên bao bì có chữ CAUSTIC SODA FLAKES - trong đó 01 bao đã qua sử dụng; 03 bao dứa chứa hóa chất màu trắng có chữ HPMC - trong đó 01 bao đã qua sử dụng; 170 cái tem nhãn mác Chanté: 548 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté có hình hoa hồng sản xuất tại công ty cổ phần S2, địa chỉ N, Ninh Bình; 324 can nước giặt có dán tem nhãn hiệu Chanté, có hình cô gái, sản xuất tại Công ty cổ phần S1, địa chỉ N, Ninh Bình; 804 can nước giặt màu hồng không dán tem nhãn mác và tịch thu tiêu hủy toàn bộ số hóa chất, dung dịch, nước giặt trong các thùng phi, can nhựa.

(Tình trạng, đặc điểm, chủng loại, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-8-2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Đình T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

-Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- VKSND TP. Chí Linh;

- Bị cáo;

- Đại diện hợp pháp bị hại;

- Cơ quan CSĐT Công an TP. Chí Linh;

- CQTHAHS Công an TP. Chí Linh;

- Công an TP. Chí Linh (hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát);

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

- Chi cục THADS TP. Chí Linh;

- UBND nơi bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG về sản xuất, buôn bán hàng giả (hình sự)

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Sản xuất, buôn bán hàng giả”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger