TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ
Ông Trịnh Ngọc Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia
phiên tòa: Ông Phan Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 400/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Phương T, sinh năm 1986;
Địa chỉ: B khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Trần Phú Q, sinh năm 1983;
Địa chỉ: B khu phố A, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà T có mặt; ông Q vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và chồng bà là ông Trần Phú Q đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự
nguyện tìm hiểu và hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay, thời gian ly thân, vợ chồng mạnh ai nấy sống. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Q nên bà yêu cầu ly hôn với ông Q.
Về con chung: bà và ông Q có với nhau 02 con chung Trần Bảo U, sinh ngày 08/6/2007 và Trần Như Ý, sinh ngày 30/3/2015. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Trần Phú Q: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho ông Q theo đúng quy định nhưng ông Q vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T; Về con chung, giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung, bà T khai khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Phương T đề ngày 19/9/2023 (BL07) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét
thấy đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Trần Phú Q có nơi cư trú tại phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Bị đơn ông Trần Phú Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Q vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q là đúng quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông Q đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre (BL08). Việc đăng ký kết hôn giữa bà T và ông Q là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2023, bà T trình bày hiện nay vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Q nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông Q và bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên ông Q vắng mặt, như vậy ông Q có ý thức bỏ mặt việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Bên cạnh đó, bà T trình bày vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ các tài liệu, chứng cứ trên, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp.
[3] Về con chung: bà T yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung. Xét thấy: Tòa án đã thông báo cho ông Q biết yêu cầu khởi kiện của bà T đối với vấn đề con chung khi ly hôn nhưng đến nay ông Q không có ý phản đối, đồng thời hiện nay hai con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bên cạnh đó, tại biên bản hỏi ý kiến con chung ngày 27/10/2023, cháu U và cháu Ý đều có nguyện vọng sống chung với bà T (BL20). Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu U và cháu Ý cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T tạm thời không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: bà T khai không có nên không xem xét.
[5] Về các vấn đề khác: bà T khai không có nợ chung nên không xem xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Phương T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Trần Phú Q, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Ngô Thị Phương T được ly hôn với ông Trần Phú Q.
- Về con chung: giao cháu Trần Bảo U, sinh ngày 08/6/2007 và cháu Trần Như Ý, sinh ngày 30/3/2015 cho bà Ngô Thị Phương T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Phương T tạm thời không yêu cầu ông Trần Phú Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: bà Ngô Thị Phương T khai không có nên không xem xét.
- - Về các vấn đề khác: bà Ngô Thị Phương T khai không có nợ chung nên không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Phương T có nghĩa vụ chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007349 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Thị Phương T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông Trần Phú Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 89/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 89/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
