Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 22-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO -THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Khanh

Ông Nguyễn Văn Quyết

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QDST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số: 08/TB-TA ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Quang N, sinh ngày 01-12-1975 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang L và bà Đỗ Thị N1; có vợ là Trần Thị H và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 271/QĐ-XPHC ngày 18-10-2023 của Ủy ban nhân dân phường N HTrần Quang N1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, Nnộp phạt ngày 19-10-2023 (chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 02-6-2024 đến ngày 11-6-2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
  2. Nguyễn Văn V3, sinh ngày 06-12-1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn E, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Phạm Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị T và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  3. Phạm Văn Đ, sinh ngày 01-5-1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn E, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Phạm Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02-6-2024 đến ngày 11-6-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cđi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.
  4. Bùi Văn T2, sinh ngày 14-3-1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H2 Phạm Thị G có vợ là Đặng Thị Kim A và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  5. Vũ Văn S1, sinh ngày 20-9-1981 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn S2bà Nguyễn Thị D; có vợ là Nguyễn Thị X và 04 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 02-6-2024 đến ngày 11-6-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cđi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.
  6. Trịnh Văn T3, sinh ngày 05-02-1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Đ1(đã chết) và bà Trần T4; có vợ là Đặng Thị Q và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  7. Nguyễn Văn T5, sinh ngày 21-7-1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, X, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tóbà Nguyễn Thị C có vợ là Lê Thúy H3 và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  8. Trần Viết T6, sinh ngày 01-01-1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, C, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần VS3và bà Nguyễn Thị Đ2; có vợ là Nguyễn Thị H3 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  9. Vũ Công G1, sinh ngày 20-3-1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công K1 (đã chết) và bà Trần Thị C1 có vợ là Nguyễn Thị L1và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  10. P, sinh ngày 19-7-1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đồng K2(đã chết) và bà Vũ Thị C2; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 10-4-2014 của Công an phường Đ đồng về hành vi đánh bạc, Q1nộp phạt ngày 10-4-2014. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC ngày 18-6-2021 của Công an huyện V về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11-6-2024 đến nay; có mặt.
  11. P, sinh ngày 13-10-1981 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T13; có vợ là Ngô Thị T7 và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90/QĐ-XPHC ngày 17-9-2019, Đồn Công an Khu Công nghiệp Đ, quận H, thành phố H Trần Văn T10đồng về hành vi đánh bạc, T7nộp phạt ngày 20-9-2019; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25-6-2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

NNTheo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 02-6-2024, Trần Quang N, Nguyễn Văn V3, Phạm Văn Đ, B Văn S2, T Văn T V Công G Đồng Q Văn T8 và một số người khác (chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) rủ nhau ăn liên hoan tại tầng 3 nhà hàng H4, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện V, thành phố H ăn xong, cả nhóm rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Nđược một người (không rõ lai lịch, địa chỉ) đưa cho 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 quân vị làm dụng cụ đánh bạc và Nghĩa là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Cả nhóm quy định số tiền đặt cược thấp nhất là 100.000 đồng và đặt cược cao nhất là 500.000 đồng. Cách thức chơi xóc đĩa là người cầm cái cho 04 quân vị hình tròn có hai mặt khác màu vào đĩa, úp bát lên rồi xóc, sau đó đặt bát, đĩa xuống để những người tham gia đánh bạc đặt tiền cược theo hai cửa chẵn, lẻ. Sau khi đặt tiền xong, người cầm cái mở bát để kiểm tra xác định là lẻ hay là chẵn (trong 04 quân vị có 01 quân có màu khác những quân còn lại là lẻ; có 02 hoặc 04 quân có màu giống nhau là chẵn). Căn cứ vào kết quả xóc quân vị người cầm cái sẽ thu tiền của người chơi đặt cửa sai kết quả và trả tiền thắng cho người chơi đặt cửa đúng kết quả chẵn hoặc lẻ với tỷ lệ bằng số tiền người chơi đã đặt cửa. Cả nhóm đánh bạc đến 13 giờ 35 phút cùng ngày thì bị Công an huyện V bắt quả tang NS1Đcòn VT2T3T4T6G1Q1T7và một số đối tượng khác bỏ chạy thoát. Thu giữ tại chỗ gồm 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị và số tiền 3.900.000 đồng; thu tại nền phòng cạnh nơi đánh bạc 1.500.000 đồng. Ngoài ra thu giữ trên người Nsố tiền 6.650.000 đồng, thu giữ trên người Sáng số tiền 190.000 đồng.

Từ ngày 05-6-2024 đến ngày 16-6-2024, lần lượt Nguyễn Văn V3, Trịnh Văn T3, B Đ, T, N4 và Trần Văn T7đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V nộp 3.000.000 đồng, T3giao nộp 200.000 đồng, T7giao nộp 300.000 đồng, Q1giao nộp 200.000 đồng, đây là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cầm theo khi bỏ chạy.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Trần Quang N2sử dụng 4.100.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thì bị thua hết nên vay của Nguyễn Văn V3 5.000.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thắng 6.650.000 đồng; V1sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, ban đầu khi chơi V2và cho N35.000.000 đồng để đánh bạc, trong lúc chơi N4lại V5.000.000 đồng; Đ3sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 1.500.000 đồng; T2khai sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 500.000 đồng và vất 1.500.000 đồng cạnh nơi đánh bạc, S1khai sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 500.000 đồng; T3khai sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 400.000 đồng; T4khai sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua hết; Tókhai sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua hết; G1khai sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thua hết; Q1khai sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc không thắng, không thua; Triển khai sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, khi đánh bạc thắng 200.000 đồng.

Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 11-6-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V khởi tố vụ án số 67/QĐ-CSĐT; Quyết định khởi tố bị can số 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109 ngày 11-6-2024 đối với Trần Quang N, Phạm Văn Đ, Vũ Văn S1, Nguyễn Văn V3, T Văn T Đồng Q Văn TViết T Công G1; Quyết định khởi tố bị can số 121 ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với Trần Văn T7về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Về việc thu giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị và số tiền 15.750.000 đồng dùng để đánh bạc, thu của V5.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 27 tháng 9 năm 2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6 Công G Đồng Q1và T đồng phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G1Phạm Đồng Q1và T về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo VĐ, T2S1T3T4T6G1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo NVT3T2Q1T6G1T7và T4. Áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Náp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo VĐT2áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo S1T3T4T6G1Q1T7. Tuyên bố các bị cáo V6 Công G1Phạm Đồng Q1và T đồng phạm tội Đánh bạc, đề nghị xử phạt Trần Quang N từ 18 đến 21 tháng tù; Nguyễn Văn VPhạm V3ĐBùi Văn T2 mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; Vũ Văn S1từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho Sáng 09 ngày bị tạm giữ bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ; Trịnh Văn T3Nguyễn Văn T4 mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; T Công G Đồng Q1Trần VT7mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo V7 Công G Đồng Q1và T trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo S1T3T4T6G1Q1và T7 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6 G1Phạm Đồng Q1và T mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 15.750.000 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 02-10-2024. Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ; 04 quân vị (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

Về án phí: Các bị cáo V6 G1Phạm Đồng Q1và T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VViện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 13 giờ 35 phút ngày 02 tháng 6 năm 2024, tại tầng 3 nhà hàng H5 ở Thôn N, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng, Trần Q1 NNguyễn Văn VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G1Phạm Đồng Q1và T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền thì bị bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 15.750.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo V6 Công G1Phạm Đồng Q1và T đồng phạm tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6 Công G Đồng Q1và T cùng tham gia đánh bạc với tổng số tiền là 15.750.000 đồng, do đó hành vi của các bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây mất trật tự trị an, xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật của N2

[5] Về vai trò của các bị cáo: Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cũng cần xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mỗi bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo Trần Q1 N5L3người cầm cái, sử dụng số tiền lớn để đánh bạc, tiếp đến bị cáo VĐT2sau là các bị cáo Sáng T3T4T6G1Q1T7. Do vậy bị cáo N giữ vai trò chính và phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Bị cáo N601 tiền sự chưa được xóa, đó là tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 271/QĐ-XPHC ngày 18-10-2023 của Ủy ban nhân dân phường N HTrần Quang N1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, Nnộp phạt ngày 19-10-2023. Bị cáo Phạm Đồng Q2 có 02 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 10-4-2014 của Công an phường Đ phạt Q11.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, Q1nộp phạt ngày 10-4-2014. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC ngày 18-6-2021 của Công an huyện VQ12.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác. Bị cáo Trần Văn T9 có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90/QĐ-XPHC ngày 17-9-2019, Đồn Công an Khu công nghiệp Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phạt Triển 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, T7nộp phạt ngày 20-9-2019. Q1và T7đã thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tính đến thời điểm phạm tội tiền sự của Q1T7được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G1Phạm Đhưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn V1 V3ĐBùi Văn T Văn S V Văn TViết T6Vũ Công G1đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo VĐT2S1T3T4T6G1được hưởng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Viết T6, N5 tham gia Q2Các bị cáo VT2T3T4T6G1Q1T7sau khi phạm tội đã ra đã đầu thú. Bị cáo Trần Quang N2 đẻ là ông Trần Q1 L2thương binh, bị cáo Trần Văn T9 có bố đẻ là ông Trần Văn T10 binh, bị cáo Nguyễn Văn T4có ông ngoại là Nguyễn Văn Đ3được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày, đây là các tình tiết giảm nhẹ các bị cáo NVT3T2Q1T6G1T7và T4được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo V6 G1Phạm Đồng Q1và T đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, để đảm bảo mục đích của hình phạt là răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời tạo điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn V1 V3ĐBùi Văn T2; áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn T11 S Văn T Văn T Viết T Công G1Phạm Đồng Q1và T, cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, tạo điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phát huy được tính giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Trần Q1 N7áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6 Công G Đồng Q1và T mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về việc khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự các bị cáo V T Văn T Viết T Công G Đồng Q1và T có thể bị khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên, các bị cáo đều có thu nhập thấp và không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo này trong thời gian cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên các bị cáo V8 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ

[9] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, số tiền 15.750.000 đồng và 190.000 đồng thu của Vũ Văn S1. Quá trình điều tra xác định số tiền 190.000 đồng thu của V9 vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho S1là phù hợp. Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 15.750.000 đồng theo Ủy nhiệm chi lập ngày 02-10-2024 tại Kho bạc Nhà nước V1giữa Công an huyện Vvà Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo là do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Trong vụ án này, ông Lê Văn M nhà hàng H5ông Mkhông biết việc các bị cáo đánh bạc, không được hưởng lợi ích gì từ việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[11] Đối với một số đối tượng có tham gia đánh bạc nhưng đã bỏ chạy đến nay chưa làm rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VQuyết định số 1317/QĐ ngày 28-9-2024 tách hành vi đánh bạc của những đối tượng chưa xác định được nhân thân, lai lịch thuộc vụ án hình sự theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 67/QĐ-CSĐT ngày 11-6-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[12] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G, P mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6, Pdụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn Đ3 V5S1Nguyễn Văn VTrịnh V2 T Văn T Văn TViết T6Vũ Công Gláp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Quang N Nguyễn Văn V3, Trịnh Văn T3, B, T, N6, Pdụng Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Q1 N8dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V1 V3ĐBùi Văn T2áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo V7, P

Tuyên bố các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi V6, P;

Xử phạt:

Bị cáo Trần Quang N3(Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02-6-2024.

Bị cáo Nguyễn Văn V3 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo Phạm Văn Đ 12 (Mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án

Bị cáo Bùi Văn T12(Mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn V4 Đcho Ủy ban nhân xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo B1, thành phố H giáo dục trong thời gian thử thách

Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn V1 V3ĐBùi Văn T2 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này

Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.

Bị cáo Vũ Văn S1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho Sáng 09 (Chín) ngày bị tạm giữ bằng 27 (Hai mươi bẩy) ngày cải tạo không giam giữ. Sáng còn phải chấp hành 17 (Mười bẩy) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Trịnh Văn T3 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Văn T5 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Trần Viết T6 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Vũ Công G1 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Phạm Đồng Q2 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Trần Văn T9 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo V10, P trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo V10, P phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong một tuần.

Giao bị cáo Vũ Văn S1 cho Ủy ban nhân dân xã A giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Trịnh Văn T3cho Ủy ban nhân dân xã V giáo dục trong thời gian cải tạo khong giam giữ

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T5, T C4G1Trần Văn T7 cho Ủy ban nhân dân xã D Hsát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Phạm Đồng Q1cho Ủy ban nhân dân xã V giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình các bị cáo V7, P có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục, trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú, hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G, P mỗi người 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn V1 V3ĐBùi Văn T2Vũ Văn S Văn T Văn T Viết T Công G, Phạm Đồng Q1 T.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; xử tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ; 01 bát sứ; 04 quân vị; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 15.750.000 đồng (Mười lăm triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng), theo Ủy nhiệm chi lập ngày 02-10-2024 tại Kho bạc Nhà nước V1, giữa Công an huyện VThi hành án dân sự huyện V. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Quang NNguyễn V VPhạm Văn ĐBùi Văn T Văn S Văn T Văn T Viết T Công G, P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên toà án cấp trên để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng (PV06, PC10);
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo
  • - UBND xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Tiền Phong, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Quang N và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger