Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 22-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.

Ông Tạ Văn Doanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1990; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S và bà Phạm Thị L; Có vợ là Hứa Thị N và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Ông Đoàn Thế Đ, sinh năm 1965 (đã chết).

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện của bị hại:

  1. Bà Đào Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt).
  2. Chị Đào Thu H1, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Đều cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Đào Thị H2, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chị Đào Thị H2, chị Đào Thu H1 ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Đào Thị H, sinh năm 1971; trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3.

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Trí T1 – Giám đốc (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là người đã có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 02/8/2023. Hiện T là lái xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3.

Sáng ngày 15/4/2024, được lệnh từ công ty, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 chở hàng từ huyện L đến thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao. Khoảng gần 08 giờ cùng ngày, sau khi giao hàng xong, T điều khiển xe ô tô di chuyển trên Quốc lộ C hướng thành phố B đi huyện S để đi đến tỉnh Lạng Sơn lấy hàng về cho công ty. Khi T điều khiển xe ô tô kéo theo rơ móoc đi đến Km40+700, Quốc lộ C, đoạn ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C và đường đi xã T thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, nơi có đèn tín hiệu giao thông đang báo màu đỏ, T dừng xe ô tô, lúc này phía trước xe của T có khoảng 04 xe ô tô con cũng đang dừng đèn đỏ. Khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh thì T điều khiển xe ô tô di chuyển đến giữa ngã tư thì thấy xe ô tô 4 chỗ đi phía trước đi chậm và phanh xe dừng lại. T điều khiển xe ô tô của mình vượt bên phải xe ô tô con nhưng không bấm còi hoặc bật đèn tín hiệu xe xin đường dẫn đến phần cánh cửa bên phải của xe ô tô và đầu thanh kim loại bảo vệ bình dầu bên phải của xe ô tô đã va vào tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 do ông Đào Thế Đ1 đang điều khiển, đi ở làn trong cùng bên phải theo hướng thành phố B đi huyện S và đang đi song song với xe ô tô do T điều khiển, làm ông Đ1 loạng choạng ngã ra đường, phần lốp phía sau bên phải xe ô tô do T điều khiển đã chèn đè qua phần đầu và ngực của ông Đ1 khiến ông Đ1 tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng. Do lúc này T không quan sát gương cầu lồi bên phụ của xe ô tô nên đã không phát hiện ra xe ô tô va chạm với ông Đ1 và vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô đi theo lịch trình đến tỉnh Lạng Sơn lấy hàng. Khi T điều khiển xe đi đến địa phận xã T, huyện L thì nhận được điện thoại của anh Vũ Trí T1 thông báo xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với ông Đ1, lúc này T mới biết và đã điều khiển xe ô tô đến Công an huyện L để làm việc.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 15/4/2024 xác định: Kết quả kiểm tra Phạm Văn T nồng độ cồn là 0,000mg/l. Tại biên bản kiểm tra ma túy ngày 15/4/2024 xác định: Phạm Văn T âm tính với ma tuý.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 15/4/2024 xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại Km40+700, Quốc lộ C, thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa áp phan, phẳng, rộng 14,3m. Đoạn đường thuộc khu vực ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu giao thông. Trên lề đường phải chiều Bắc Giang đi S có biển báo giao thông giao nhau với đường không ưu tiên, cách vị trí xảy ra tai nạn 50m. Tại vị trí xảy ra tai nạn có vạch kẻ đường màu trắng dành cho người đi bộ. T2 đường có vạch liền màu vàng. Lấy mép đường phải chiều đường B đi S làm chuẩn. Lấy cột điện lưới ký hiệu 7-II/CK làm mốc. Tại vị trí ký hiệu (1) là vết cày xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước trên diện (205x45)cm. Cuối vết tiếp xúc đầu để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812. Đầu vết cách mép chuẩn 110cm, cách mốc 1020cm. Cuối vết cách mép chuẩn 85cm. Tại vị trí ký hiệu (2) vết cày xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước (110x1)cm. Đầu vết cách mép chuẩn 135cm, cách mốc 950cm. Cuối vết tiếp xúc đầu tay nắm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812. Cách mép chuẩn 130cm. Chiều hướng vết theo hướng Bắc Giang đi S. Tại vị trí ký hiệu số (3) là xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 trong trạng thái đổ nghiêng trái, đầu xe hướng Sơn Động. T2 trục sau xe cách mép chuẩn 105cm, cách mốc 865cm, cách đầu vết số (1) là 175cm. T2 trục trước cách mép chuẩn là 45cm. Tại vị trí số (4) là tử thi nam giới trong tư thế nằm sấp đầu hướng mép đường trái. Đầu mũi chân phải cách mép chuẩn 100cm. Đầu tử thi cách mép chuẩn 235cm, cách mốc 800cm. Tại vị trí ký hiệu số (5) là đám mảnh nhựa vỡ kích thước trên diện (350x240)cm, tâm mảnh vỡ cách mép chuẩn 215cm, cách mốc 730cm, cách trục trước xe mô tô ký hiệu số (3) là 250cm. Tại vị trí ký hiệu số (6) là đám mảnh nhựa vỡ (mảnh xốp màu tráng) kích thước trên diện (180x110)cm, tâm mảnh vỡ cách mép chuẩn 350cm, cách mốc 620cm, cách trục trước xe mô tô ký hiệu số (3) là 520cm. Tại vị trí ký hiệu số (7) là tổ chức cơ thể người trên diện (150x180)cm. T2 vị trí số (7) cách mép chuẩn 230cm, cách mốc 800cm, cách trục trước xe mô tô ký hiệu số (3) là 210cm. Tại vị trí ký hiệu số (8) là đám mảnh nhựa vỡ kích thước trên diện (90x90)cm, cách mép chuẩn 460cm, cách mốc là 800cm. Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: tạm giữ phương tiện, thu giữ đám mảnh nhựa vỡ tại các vị trí số 5, 6, 8.

Tại biên bản khám phương tiện ngày 15/4/2024 xác định:

- Xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 có những dấu vết sau: Ốp gương chiếu hậu bên trái có vết mài trượt nhựa bám dính bụi đất kích thước (12x19)cm; đầu tay nắm lái bên trái có vết rách cao su và mài trượt kim loại kích thước (2,5x2)cm; ốp mặt trước có vết mài trượt bám dính bụi đất kích thước (7x2,5)cm; đầu ốp chắn bùn phía trước bánh trước có vết mài trượt nhựa bám dính bụi đất kích thước (8x14)cm; mặt bên phải ốp chắn bùn phía trước bánh trước có vết mài trượt nhựa song song kích thước (12x12)cm; đầu giảm xóc bên trái bánh trước có vết mài trượt kim loại kích thước (2x1)cm; đầu trục bánh trước bên trái có vết mài

trượt kim loại kích thước (0,5x1)cm; má lốp bên trái bánh trước có vết mài trượt cao su kích thước (30x2)cm. Điểm đầu vết cách van xe theo chiều kim đồng hồ 40cm; Giá để chân bên trái người lái và chân chống bị cong vênh theo chiều từ trước ra sau, đầu giá để chân có vết mài trượt cao su và kim loại kích thước (3x2)cm; đầu chân chống nghiêng bị cong vênh gấp chiều từ dưới lên trên; đầu cần số có vết mài trượt kim loại kích thước (1x1)cm; đầu giá để chân bên trái người ngồi sau có vết mài trượt cao su và kim loại kích thước (2x1)cm; mặt trước đầu ngoài đầu tay nắm bên trái có dấu vết rách, trượt xước cao su găm kẹp bột đá màu xám và bụi đất trên diện (2,6x2,1)cm, cạnh viền bên ngoài đầu tay nắm có vết mài trượt cao su sạch bụi đất chiều hướng từ sau ra trước trên diện (3,8x2,6)cm. Điểm thấp nhất cách đất 92,2cm.

- Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 có những dấu vết sau: Tại vị trí mặt ngoài lốp bên phải ngoài cùng bánh phía sau của ô tô đầu kéo có vết mài trượt sạch bụi đất kích thước (34x5)cm trên dòng chữ D563; tại vị trí giữa dòng chữ VIYNSTAR 12.00R20 mặt ngoài lốp bên phải ngoài cùng bánh phía sau của ô tô đầu kéo có vết mài trượt màu đen kích thước (18x1)cm; mép ngoài ốp chắn bùn bánh sau cùng bên phải ô tô đầu kéo có vết mài trượt màu đen kích thước (42x0,5)cm; mặt ngoài lốp ngoài cùng bên phải bánh sau cùng bên phải ô tô đầu kéo có vết mài trượt màu đen sạch bụi đất kích thước (17x6)cm trên dòng chữ TRAZANO có vết mài trượt màu đen sạch bụi đất hình vòng cung mặt ngoài lốp kích thước (110x7)cm; mặt ngoài cùng lốp bánh bên phải rơ móoc có vết mài trượt màu đen sạch bụi đất kích thước (15x14)cm. T2 vết cách tâm trục bánh 45cm; mặt ngoài cùng lốp bánh bên phải thứ 2 có vết mài trượt màu đen sạch bụi đất kích thước (25x12)cm. T2 vết cách tâm trục bánh 50cm. Đầu vết cách dòng chữ “YB632+” là 5cm theo chiều kim đồng hồ; khe lốp bánh thứ 2 giữa 2 lốp bên phải của rơ móoc bám dính chất màu nâu dạng giọt bắn kích thước (41x13)cm mặt ngoài của lốp phía trong bánh thứ 2 bên phải của rơ móoc, mép lốp phía trong bánh ngoài bám dính chất màu nâu dạng giọt bắn kích thước (20x10)cm; mặt ngoài bánh trong bên phải cuối cùng của rơ móoc bám dính chất màu nâu dạng giọt bắn kích thước (14x7)cm; mặt ngoài góc dưới cánh cửa bên phải có dấu vết trượt xước sơn, sạch bụi đất bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su hướng từ trước về sau trên diện (20,5x1,6)cm, điểm thấp nhất cách đất 91,5cm, điểm cao nhất cách đất 95,5cm; mặt ngoài giá bảo vệ bình dầu bên phải (thanh kim loại thứ 2 tính từ dưới lên trên) và thanh kim loại gắn đỡ giá bảo vệ có vết mài trượt kim loại, nhựa bề mặt sạch bụi đất, bám dính chất màu đen dạng cao su hướng từ trước ra sau trên diện (5x3,5)cm. Điểm thấp nhất cách đất 95,5cm.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi ngày 15/4/2024 xác đinh: Kết quả khám tử thi, có các dấu vết chính như sau: Trên cơ thể Đào Thế Đ1 có tổn thương chính chủ yếu ở phía trên dạng chè đèn lên cơ thể, các dấu vết chính: hai lỗ tai, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông chảy từ trong ra; Vùng trán đỉnh phải có vết thương rách da bờ mép gọn kích thước (16x13)cm, sâu thấu trong; Ép dẹp toàn bộ vùng đầu, mặt, cổ và lồng ngực hai bên, gãy phức tạp

toàn bộ hệ thống xương đầu, mặt, cột sống và lồng ngực hai bên; dập nát tổ chức dưới da, xương hộp dọ phía dưới vết thương thành nhiều mảnh rời; dập nát tổ chức não, thoát một phần tổ chức não ra bên ngoài và nhiều máu không đông chảy ra; nhiều vết rách da, mài sát, hằn lõm da tập trung ở vùng đầu, mặt, cổ ngực và hai chi trên. Mẫu thu để giám định: Thu mẫu máu của tử thi.

Cùng ngày 15/4/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ của T: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812; 01 xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc tải biển kiểm soát 98R-024.43. Cùng ngày, Phạm Văn T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện sơ mi rơ moóc số EA-1655176, biển số đăng ký 98R-024.43; 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện ô tô đầu kéo số EA-1655174, biển số đăng ký 98LD-010.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đầu kéo số 98030143 biển số đăng ký 98LD-010.68 của công ty TNHH MTV T3; 01 Giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 98000800 biển số đăng ký 98R-024.43 của công ty TNHH MTV T3; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Phạm Văn T.

Tại Kết luận giám định tử thi số 970/KLGĐTT-KTHS ngày 03/5/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Đào Thế Đ1 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương cột sống, chấn thương ngực kín. Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể Đào Thế Đ1: Các tổn thương rách da, mài sát, hằn lõm da do vật tày có diện tiếp xúc, lực tác động và theo nhiều chiều hướng khác nhau tạo nên. Trong đó vỡ sập phức tạp xương vùng đầu mặt, gãy xương cột sống, xương lồng ngực hai bên do vật tày tác động với lực mạnh, dạng chèn ép đè qua cơ thể tạo nên.

Tại Kết luận giám định số 1058/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài góc dưới cánh cửa bên phải và đầu thanh kim loại bảo vệ bình dầu bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 (dấu vết có chiều hướng từ trước ra sau, ảnh 18,19,20 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, bám dính bụi đất, hướng từ sau ra trước ở đầu ngoài tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 (ảnh 15, 17 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  2. Dấu vết mài trượt cao su, bám dính chất màu nâu đỏ ở mặt lăn và khe rãnh lốp bánh đôi hàng bánh số 4, số E, số 6 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98LD - 010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 (ảnh 11, 14, 15, 16, 17) được hình thành do chèn đè lên cơ thể nạn nhân Đào Thế Đ1 tạo nên. Vị trí chèn đè trên mặt đường trong diện dấu vết tổ chức mô cơ thể, ký hiệu số 7.

  3. Hệ thống dấu vết mảnh nhựa vỡ trên hiện trường ký hiệu số 5 và số 6 phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 98LD - 010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R - 024.43 chuyển động chèn đè lên cơ thể nạn nhân Đào Thế Đ1 khi đang đội mũ bảo hiểm tạo nên.
  1. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98LD - 010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R - 024.43 với xe mô tô biển kiểm soát 98N1 - 9812 trên mặt đường, tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1 và số 2, trong khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 31 với đường đi xã T và đường vào tổ dân phố C
  2. Căn cứ chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện và dấu vết trên hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện chuyển động cùng chiều (theo hướng Bắc Giang đi S).
  3. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại Kết luận giám định số 2981/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của V Bộ C kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Đào Thế Đ1 gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).

Tại Kết luận giám định số 39/KL-HĐĐGTS và số 40/KL-HĐĐGTS cùng ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe mô tô biển số 98N1-9812 bị thiệt hại tài sản trị giá 1.030.000 đồng. Xe ô tô đầu kéo biển số 98LD-010.68 kéo theo rơ moóc biển số 98R-024.43 bị thiệt hại tài sản thị giá 400.000 đồng.

Tại Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 21/5/2024: Cơ quan điều tra lấy mặt sân bê tông chợ N1 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có kích thước tương ứng với mặt đường tại Km40+700, đường Q, thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang có chiều rộng là 14,3m. Vị trí số (1) là xe ô tô biển kiểm soát 98LD-010.68. Vị trí số (2) là xe mô tô biển kiểm soát 98N1 – 9812. Cho xe mô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 và đầu xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 song song với nhau, tay nắm lái xe mô tô bên trái va chạm vào mặt ngoài góc dưới cánh cửa bên phải của xe ô tô. Tiến hành để anh Phạm Văn T ngồi trên cabin ô tô ở vị trí ghế lái xe đầu kéo, quan sát qua gương chiếu hậu bên phải thì không thấy xe mô tô. Quan sát gương chiếu sườn xe ô tô bên phải và gương cầu lồi bên phải của xe ô tô thì có thấy chiếc xe mô tô.

Ngày 02/5/2024 bà Đào Thị H (là vợ ông Đ1) giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L gồm: 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Đào Thế Đ1; 01 (một) Đăng ký xe một tô số 010885 biển số đăng ký 98N1-9812 mang tên Hoàng Văn M, sinh năm 1977, trú tại thôn K, xã H, huyện L (bản phô tô), xe do ông Đ1 mua lại của anh M. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 không có trong cơ sỡ dữ liệu.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Phạm Văn T điều khiển xe ô tô vượt phương tiện đi cùng chiều phía trước không báo hiệu bằng đèn hoặc còi, vượt ở đoạn đường giao nhau và vượt ở bên phải phương tiện đi phía trước, dẫn đến xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe mô tô do ông Đ1 điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả làm ông Đ1 tử vong. Hành vi trên của Phạm Văn T đã vi phạm quy

định tại khoản 11 Điều 8; khoản 1 khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.

Tại khoản 11 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “11. Điều khiển xe cơ giới ... giành đường, vượt ẩu”.

Tại khoản 1 khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ quy định về vượt xe:

“1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi...

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái...:

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

d) Nơi đường giao nhau...;”

Về vật chứng vụ án: Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại anh Vũ Trí T1 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68, kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43, 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện sơ mi rơ moóc số EA-1655176, biển số đăng ký 98R-024.43; 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện ô tô đầu kéo số EA-1655174, biển số đăng ký 98LD-010.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đầu kéo số 98030143 biển số đăng ký 98LD-010.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 98000800 biển số đăng ký 98R-024.4; trả lại cho bà Đào Thị H 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812; 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Đào Thế Đ1. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Phạm Văn T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Phạm Văn T và Công ty TNHH MTV T3 đã cùng bồi thường cho gia đình ông Đ1 số tiền 210.000.000 đồng (trong đó T bổi thường 105.000.000đ, công ty bồi thường 105.000.000 đồng). Đại diện hợp pháp của ông Đ1 đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho T. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 do anh T1 làm Giám đốc không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại xe ô tô và không yêu cầu phải hoàn trả tiền bồi thường cho công ty.

* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Người đạ diện của bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này. Bị cáo không có ý kiến về lời khai của những người vắng mặt.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Phạm Văn T.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện của bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản giám định phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 07 giờ ngày 15/4/2024, Phạm Văn T điều khiển xe xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 đi trên Quốc lộ C hướng thành phố B đi huyện S. Khi đi đến Km40+700, Quốc lộ C, đoạn ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C và đường đi xã T thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, T điều khiển xe ô tô vượt bên phải xe ô tô đi cùng chiều phía trước nhưng không báo hiệu bằng đèn hoặc còi và vượt ở phía bên phải xe ô tô đi phía trước, dẫn đến xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 do ông Đào Thế Đ1 điều khiển đi cùng chiều. Hành vi trên của T đã vi phạm quy định tại khoản 11 Điều 8; khoản 1 khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả ông Đ1 tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng con người, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt theo Bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Phạm Văn T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; người đại điện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng có đủ điều kiện cải tạo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Mức hình phạt tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lái xe, không có nghề nghiệp gì khác nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Phạm Văn T và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 đã cùng bồi thường cho gia đình ông Đ1 số tiền 210.000.000 đồng (trong đó T bổi thường 105.000.000đồng, công ty bồi thường 105.000.000 đồng). Đại diện hợp pháp của ông Đ1 đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm, không yêu cầu bồi thường thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại xe ô tô và không yêu cầu phải hoàn trả tiền bồi thường cho công ty. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu, trả lại 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68, kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43, 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện sơ mi rơ moóc số EA-1655176, biển số đăng ký 98R-024.43; 01 Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện ô tô đầu kéo số EA-1655174, biển số đăng ký 98LD-010.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đầu kéo số 98030143 biển số đăng ký 98LD-010.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 98000800 biển số đăng ký 98R-024.4 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 do ông Vũ Trí T1 là giám đốc đại diện; trả lại cho bà Đào Thị H 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 và 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Đào Thế Đ1. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Phạm Văn T cần trả lại bị cáo Phạm Văn T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  2. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] mang tên Phạm Văn T.
  4. (Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

  5. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người đại diện của bị hại, bị đơn dân
  • sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng hơn 07 giờ ngày 15/4/2024, Phạm Văn T điều khiển xe xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98LD-010.68 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-024.43 đi trên Quốc lộ C hướng thành phố B đi huyện S. Khi đi đến Km40+700, Quốc lộ C, đoạn ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C và đường đi xã T thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, T điều khiển xe ô tô vượt bên phải xe ô tô đi cùng chiều phía trước nhưng không báo hiệu bằng đèn hoặc còi và vượt ở phía bên phải xe ô tô đi phía trước, dẫn đến xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98N1-9812 do ông Đào Thế Đ1 điều khiển đi cùng chiều. Hành vi trên của T đã vi phạm quy định tại khoản 11 Điều 8; khoản 1 khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả ông Đ1 tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger