|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày: 21/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Danh Long
- Ông Ma Quốc Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS, ngày 10/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Quang H, sinh ngày 18/11/1993 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Cao Lan; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc M, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Vợ: Phan Thị D, sinh năm 1996; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; A ,chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên tòa).
Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Khu T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; tạm trú tại: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Người làm chứng: Anh Đỗ Viết C, sinh năm 2003, trú tại: Khu B, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 07/4/2024, Trần Quang H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại HD65, biển số đăng ký 34F-012.55 chở theo Đỗ Viết C đi giao vỏ bình gas tại tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi giao bình gas xong H điều khiển xe ô tô cùng C từ Quảng Ninh về cửa hàng G tại thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang do anh Nguyễn Văn Q làm chủ. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày H điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường K+350, Quốc lộ B thuộc địa phận thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, xe di chuyển với vận tốc khoảng 50km/giờ và đi ở phần đường bên phải theo chiều đi của H theo hướng Vĩnh Phúc - Tuyên Quang. Lúc này tại khu vực ngã 4 nơi đường Q giao nhau với đường bê tông liên thôn hướng đi thôn V và thôn C, xã S (có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên). Hợp quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng biển số đăng ký 22B2-669.75 do ông Tạ Văn C1, sinh năm 1963, trú tại thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển đi ngược chiều với H ở phần đường bên phải, hướng Tuyên Quang - Vĩnh Phúc, ông C1 đang điều khiển xe mô tô đi từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển. H có bóp còi để cảnh báo và nghĩ ông C1 sẽ dừng lại để nhường đường cho xe của H đi thẳng nên H tiếp tục điều khiển xe đi với vận tốc 50km/giờ (không giảm tốc độ). Khi xe ô tô do H điều khiển cách xe mô tô do ông C1 điều khiển khoảng 20m, H thấy ông C1 vẫn tiếp tục di chuyển sang phần đường bên phải theo chiều đi của H, H đạp phanh, giảm tốc độ của xe ô tô, đồng thời đánh lái sang bên phải đường theo chiều đi của H để tránh xảy ra va chạm. Tuy nhiên do khoảng cách gần, bản thân H không chủ động giảm tốc độ từ trước nên xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với xe mô tô do ông C1 điều khiển.
Hậu quả: Ông Tạ Văn C1 bị thương đi cấp cứu tại Bệnh viện V, thành phố Hà Nội, đến ngày 09/4/2024 thì được đưa về nhà và chết; Xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
Kết luận giám định tử thi số 518/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não, hôn mê sâu ngày thứ 3; Vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể đã mô tả ở trên; Cơ chế gây thương tích: Các thương tích trên thân thể Tạ Văn C1 do va đập với vật tày gây ra.
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 16 giờ 30 phút ngày 07/4/2024 tại thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Khám nghiệm hiện trường theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang. Từ tâm hiện trường về hướng đi tỉnh Tuyên Quang 200m đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Từ tâm hiện trường về hướng đi tỉnh Vĩnh Phúc 80m đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Lòng đường nơi xảy ra vụ tai nạn rộng 8,60m, hai bên không có lề đường, hai bên đường có nhiều hộ dân cư liền nhau, giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng, hai bên mép đường không có vạch sơn. Lấy mép đường nhựa bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép chuẩn, lấy cọc tiêu H3/53 bên phải đường làm vật chuẩn cách mép chuẩn là
2
35cm, vật chuẩn đo đến đầu trục trước bên trái xe ô tô biển số 34F-012.55 là 21,60m.
Xe ô tô biển số 34F-012.55 dừng đỗ trên lòng đường, đầu xe quay hướng đi Tuyên Quang, chếch chéo ra mép đường phải, đuôi xe hướng đi Vĩnh Phúc chếch chéo ra giữa đường. Má ngoài lốp trước bên phải cách mép chuẩn 8cm, má ngoài lốp sau bên phải cách mép chuẩn 60cm (vị trí số 1). Vết cày trượt mặt đường có chiều dài là 3,66m, rộng nhất 1,5cm, sâu nhất 0,2cm, chiều hướng V đi Tuyên Quang. T1 đầu vết cách mép chuẩn 92cm, cách đầu trục sau bên phải xe ô tô biển số 34F-012.55 là 35cm. T1 cuối vết trùng với đầu để chân trước bên trái xe mô tô biển số 22B2-669.75 và cách mép chuẩn là 31cm (vị trí số 2). Xe mô tô biển số 22B2-669.75 đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng vào các hộ dân cư bên phải đường, đuôi xe quay ra giữa đường. Đầu trục trước bên phải cách mép chuẩn 34cm, cách đầu trục sau bên phải xe ô tô (vị trí số 1) 3,75m. Đầu trục sau bên phải nằm trên lòng đường và cách mép chuẩn 63cm (vị trí số 3). Từ đầu trục sau bên phải xe ô tô (vị trí số 1) về hướng đi Vĩnh Phúc 90m bên phải đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và cách 7,5m là tâm đường nhánh bên phải đường (đường đi xã N). Về hướng đi tỉnh Tuyên Quang 40m bên trái đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Mặt cắt đường nhánh đi xã N với đường Q rộng 9,0m, đường đi xã N rộng 5,0m. Cách đầu trục sau bên phải xe ô tô (vị trí số 1) về hướng đi Vĩnh Phúc 4,5m, trên lòng đường có vạch sơn màu vàng. Từ tâm đầu vết số 2 đo về hướng đi Vĩnh Phúc 35cm là tâm đầu trục sau bên phải xe ô tô (số 1). Từ đầu trục trước bên phải xe mô tô (số C) đo về hướng đi Vĩnh Phúc 3,75m là tâm trục sau bên phải xe ô tô (số 1).
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 14 giờ 22 phút ngày 07/4/2024 tại Phòng khám Đ, S đối với ông Tạ Văn C1 là 0,146mg/ 1 lít khí thở (không phẩy một trăm bốn mươi sáu miligam trên một lít khí thở); không phát hiện nồng độ cồn đối với Trần Quang H.
Kết luận giám định số 529/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Các vết trượt xước, mài miết mất sơn ở mặt trước ốp mặt nạ xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55 hình thành do va chạm với các vết trượt xước bề mặt bám dính tạp chất màu trắng, màu xanh ở đầu tay nắm lái bên phải và đầu tay phanh xe mô tô biển số 22B2-669.75 là phù hợp; Các vết trượt xước, mài miết ở mặt trước biển số trước, ba đờ sốc trước xe ô tô biển số 34F-012.55 hình thành do va chạm với các vết mài miết bề mặt bám dính tạp chất màu vàng dạng sơn ở bên phải xe mô tô biển số 22B2-669.75 là phù hợp; Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 34F-012.55 và xe mô tô biển số 22B2-669.75 thuộc chiều đường phải theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang là phù hợp.
Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video gửi giám định; Nội dung, diễn biến sự việc, đặc điểm người, phương tiện có liên quan đến sự việc trong file video gửi giám định được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo; Không đủ cơ sở xác định tốc độ của phương tiện ngay trước thời điểm va chạm.
3
Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: Tổng số tiền bị thiệt hại của xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55 là 1.500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: Tổng số tiền bị thiệt hại của xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75 là 450.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ: 01 xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu sơn trắng đen bạc, số máy; JA39E2206283, số khung: RLHJA3924MY088985, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn và 01 xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại HD65, màu sơn xanh, số khung: KMFGA17FP5C011415, số máy D4AF5237785, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn. Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu sơn trắng đen bạc cho anh Trần Văn T và xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại HD65, màu sơn xanh cho anh Nguyễn Văn Q.
Cáo trạng số 87/CT-VKSSD, ngày 10/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Quang H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện S giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.
- Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Quang H; Trả lại anh Nguyễn Văn Q 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55 và 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 07/4/2024 tại Km53+350, Quốc lộ B thuộc địa phận thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên). Trần Quang H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu HUYNDAI, biển số đăng ký 34F-012.55 đi ở phần đường bên phải theo chiều đi của H theo hướng Vĩnh Phúc - Tuyên Quang đã không làm chủ tốc độ, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ dẫn đến xe ô tô do H điều khiển va chạm với ông Tạ Văn C1, sinh năm 1963, trú tại thôn N, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đang điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75 đi sang đường bên phải theo chiều đi của H. Hậu quả ông Tạ Văn C1 bị thương đi cấp cứu tại Bệnh viện V, thành phố Hà Nội, đến ngày 09/4/2024 thì được đưa về nhà và chết. Hành vi của Trần Quang H đã vi phạm khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Quang H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[2] Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm vào quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của giao thông đường bộ, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Do vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại; người bị hại có một phần lỗi (Ông C1 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ khi trong máu có nồng độ cồn 0,146mg/ 1 lít khí thở, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ (không chú ý quan sát khi chuyển hướng) dẫn đến xảy ra va chạm giao thông vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia (sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ) và
5
khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội do vô ý, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã cùng người nhà đưa nạn nhân đi cấp cứu, đã cùng gia đình thăm hỏi, bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, người bị hại cũng có lỗi, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật bị hạn chế. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và tài liệu liên quan:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các giấy tờ và chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Quang H; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55 và 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55 của chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Q. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo và anh Nguyễn Văn Q.
Đối với 01 xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu sơn trắng đen bạc, số máy; JA39E2206283, số khung: RLHJA3924MY088985, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn và 01 xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại HD65, màu sơn xanh, số khung: KMFGA17FP5C011415, số máy D4AF5237785, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn. Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại xe mô tô biển số đăng ký 22B2-669.75, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu sơn trắng đen bạc cho anh Trần Văn T và xe ô tô biển số đăng ký 34F-012.55, nhãn hiệu HUYNDAI, số loại HD65, màu sơn xanh cho anh Nguyễn Văn Q. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về phần dân sự: Bị cáo Trần Quang H đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000đ. Tại phiên tòa không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q xác định xe ô tô bị hư hỏng tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Do đó, HĐXX không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và
6
những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Quang H; Trả lại anh Nguyễn Văn Q 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55 và 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 34F-012.55.
(Các giấy tờ trên đã trả lại cho bị cáo và anh Q tại phiên tòa).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Danh Long - Ma Quốc Thể |
Hoàng Thị Minh Khánh |
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
9
10
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T.Q.H điều khiển xe ô tô gây tai nạn. Hậu quả chết người
