Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 89/2025/DS-PT

Ngày 27 - 02 - 2025

V/v tranh chấp chia thừa kế tài sản là

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế

Ông Nguyễn Thành Lập

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 568/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 347/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Văn H, sinh năm 1956.
  2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1961.
  3. Bà Lê Thị Y, sinh năm 1962.
  4. Bà Lê Thị T, sinh năm 1973.
  5. Bà Lê Thiên L, sinh năm 1972.
  6. Bà Lê Thu C, sinh năm 1977.
  7. Ông Lê Hoàng G, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: Số G, khóm D, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh T2, sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (theo Văn bản uỷ quyền ngày 19 tháng 10 năm 2022, có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Minh H1, sinh năm 1972.

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Quốc T3, sinh năm 1975. Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm E, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo Văn bản uỷ quyền ngày 08 tháng 11 năm 2022, vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Kim T4, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T4: Ông Cao Quốc T3, sinh năm 1975. Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm E, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 08 tháng 11 năm 2022, vắng mặt).

  1. Anh Lê Vũ P (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị Cẩm H2, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

  1. Tập đoàn B.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T5 – Chuyên viên pháp chế - Thanh C2. Địa chỉ: số C, đường L, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

  1. Ngân hàng N1

Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

  1. Ông Châu Hoàng T6, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Số H, đường N, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn và người đại diện nguyên đơn, ông Huỳnh Minh T2 trình bày:

Cụ Lê Văn Q, sinh năm 1934 (chết năm 2011) và cụ Hồ Thị S, sinh năm 1937 (chết năm 1994), hai cụ có tất cả 09 người con gồm: Lê Văn H, Lê Thị N, Lê Thị Y, Lê Minh H1, Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Thu C, Lê Hoàng G, trước khi chết hai cụ không để lại di chúc.

Di sản để lại gồm: Thửa đất 147, tờ bản đồ số 6 (nay là thửa 29 tờ bản đồ số 2), diện tích 4.621,1m² tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Khi cụ Q chết thì nhà đóng cửa, không người trông coi. Khoảng một năm sau ông H1, bà T4 về ở để trông coi nhà cửa, khi đó các anh em đều thống nhất để ông bà ở gìn giữ nhà đất, việc này chỉ nói miệng không lập thành văn bản. Cuối năm 2021 thì các anh em bắt đầu mâu thuẫn và từ lúc đó, ông H1, bà T4 cho biết là ông, bà đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà và đất này. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chỉnh lý trang 4 cho ông H1, bà T4 năm 2012.

Quá trình điều chỉnh trang 4 sang cho ông H1, bà T4 là không đúng theo trình tự, quy định pháp luật. Cụ thể tại Tờ khai tông chi ngày 11/5/2012 thể hiện số chứng minh nhân dân tên Lê Thị N, Lê Thị Y trùng nhau; văn bản thỏa thuận phân chia di sản trùng số chứng minh nhân dân của Lê Minh H1 và Lê Văn T1 và số chứng minh nhân dân của bà Lê Thị Y không đúng thực tế; Tờ khai tông chỉ bà Lê Thị T có 02 số chứng minh nhân dân khác nhau; ngày 12/8/2022 ông H1 có làm tờ Giấy xác nhận gửi đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây ông H1 thừa nhận phần đất này là của cha mẹ để lại chưa được phân chia, ông chỉ đại diện đứng tên không phải của riêng ông. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 24/7/2012 là không đúng quy định pháp luật dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1, bà T4 không đúng pháp luật.

Trên phần đất này hiện nay có một trạm thu phát sóng của V1 chiếm diện tích khoảng 20m² do ông H1, bà T4 cho thuê từ năm 2016. Có ngôi nhà của ông Lê Văn Q được xây dựng năm 2003 diện tích 80m² trị giá khoảng 40.000.000đ nhưng tiền xây dựng ban đầu là do bà Lê Thu C chi trả. Bà C là người trực tiếp thờ cúng cha mẹ nên các anh chị em thống nhất để bà C hưởng kỷ phần thờ cúng theo luật định. Do thửa đất có chiều ngang mặt giáp lộ bê tông khoảng 36m, dài khoảng 128,5m², nguyên đơn yêu cầu chia theo cách xẻ xuôi chiều từ lộ bê tông vào hết đất thành 10 phần bằng nhau, trung bình mỗi phần có chiều ngang 3,6m, dài 128,5m.

Nay các đồng nguyên đơn yêu cầu:

Chia thừa kế quyền sử dụng đất nói trên thành 10 phần bằng nhau, mỗi nguyên đơn được hưởng 01 kỷ phần là 462,1m². Riêng bà Lê Thu C được hưởng 02 kỷ phần, các đồng nguyên đơn nhận đất. Giá trị trung bình mỗi kỷ phần được hưởng là 92.420.000đ.

Đối với việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Minh H1 ngày 18/9/2012 tại thửa 147, tờ bản đồ số 06, diện tích đất 4.621,1m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xin rút, không còn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Cao Quốc T3 trình bày:

Ông xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ Q và cụ S để lại, khi cụ Q cụ S chết không để lại di chúc, khi còn sống thì phần đất này cụ Q thế chấp tại ngân hàng N1 – Phòng G1, sau đó ông H1 tất toán khoản nợ này khoảng 46.000.000đ. Sau khi tất toán một thời gian thì ông H1 tiếp tục vay lại tại ngân hàng N1 – Phòng G1 số tiền 150.000.000đ.

Ngày 24/7/2012 thì tất cả các anh chị em đến Văn phòng C3 thống nhất giao di sản này lại cho ông H1. Đối với căn nhà trên đất thì khi cụ Q còn sống đã có căn nhà mái lá, vách tole, căn nhà do ai xuất tiền ra cất ông không biết, sau khi cụ Q chết thì ông H1 xây mới căn nhà lại bằng tiền của ông H1, căn nhà này được giao lại cho con trai và con dâu của ông H1 ở để thờ cúng ông bà, nhưng từ khi các anh em xảy ra mâu thuẩn thì các con của ông H1 đóng cửa nhà và không thường xuyên ở trong căn nhà này.

Diện tích đất hiện nay đã có thay đổi, không còn đủ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T5 trình bày: Ông xác định Viễn thông C có ký hợp đồng với ông Châu Hoàng T6, ông T6 thuê đất của ông H1. Hiện Viễn thông Cà Mau có trạm phát sóng di động trên phần đất của ông H1, khi thuê có lập hợp đồng. Nay các đồng nguyên đơn kiện bị đơn về việc chia thừa kế, Viễn thông Cà Mau không ý kiến hay yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Châu Hoàng T6 trình bày: Ông xác định vào ngày 01/9/2017 ông ký hợp đồng thuê phần đất của ông Lê Minh H1 diện tích 30m x 30m, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố C, việc thuê là sự thống nhất của hai bên, khi thuê có lập hợp đồng, giá thỏa thuận 10.000.000đ/năm thời hạn 15 năm, sau khi thuê ông có xây dựng 01 trụ ăngten và cho Viễn thông C2 thuê lại, hiện hợp đồng vẫn còn hiệu lực, trường hợp Tòa án giải quyết có ảnh hưởng đến phần đất ông thuê thì ông và ông H1 sẽ tự thỏa thuận giải quyết, nếu không thỏa thuận được ông sẽ yêu cầu thành vụ án khác, do không yêu cầu gì trong vụ án chia thừa kế nên ông xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và các phiên Tòa xét xử của Tòa án trong vụ án nêu trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 347/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc chia thừa kế.

Giao ông Lê Minh H1 được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt phần đất có diện tích 3.719,2m² thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Giao ông Lê Minh H1 quản lý phần đất có tổng diện tích 272,6m² (căn nhà 104,9m² và mồ mã 167,7m²) làm nơi thờ cúng và phần các ngôi mộ.

(Kèm theo bản vẽ ngày 10/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật công nghệ quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh C).

Buộc ông Lê Minh H1 có trách nhiệm hoàn trả cho các đồng thừa kế gồm: Lê Văn H, Lê Thị N, Lê Thị Y, Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Thu C, Lê Hoàng G mỗi người với số tiền: 156.519.483đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30/09/2024, ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Huỳnh Minh T2 tranh luận: Ông Lê Minh H1 không còn ở địa phương nên giao phần đất được hưởng thừa kế và đất mồ mả cho các nguyên đơn quản lý sử dụng; còn phần đất ông H1 được hưởng thì cắt đất chia cho ông H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 347/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Sau khi bản án sơ thẩm tuyên, bị đơn không kháng cáo. Các nguyên đơn chỉ kháng cáo yêu cầu được chia thừa kế bằng quyền sử dụng đất chứ không đồng ý nhận phần thừa kế bằng tiền. Như vậy, các đương sự đồng ý phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 3.991,8m² là di sản thừa kế của cụ Lê Văn Q và cụ Hồ Thị S. Các đương sự thống nhất trừ diện tích đất gắn liền căn nhà làm nơi thờ cúng là 104,9m², trừ diện tích 4 khu mồ mả là 167,7m². Diện tích đất còn lại là 3.719,2m² được chia thừa kế cho 9 người. Trong đó, ông H1 có công nuôi dưỡng nên được chia thừa kế nhiều hơn với phần đất diện tích 454,9m². Phần đất còn lại diện tích 3.264,3m² được chia cho 8 kỷ phần thừa kế bằng nhau, mỗi phần thừa kế được hưởng diện tích đất là 408,04m². Các nguyên đơn kháng cáo yêu cầu nhận đất, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2] Phần di sản thừa kế của cụ Q và cụ S là phần đất ở nông thôn và trồng cây lâu năm có 4 khu nhà mộ nằm rải rác trong khu đất nên không thể chia cho các thừa kế bằng hiện vật được mà chỉ giao cho 01 người quản lý, sử dụng và những người còn lại được chia bằng giá trị đất như án sơ thẩm quyết định là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Các nguyên đơn thừa nhận, ông Lê Minh H1 là người có công nuôi dưỡng cha, mẹ. Khi còn sống, cụ Q có thiếu tiền vay Ngân hàng nên ông H1 xuất tiền ra để trả nợ Ngân hàng và canh tác phần đất từ năm 2011 đến nay. Sau khi cụ Q chết, các đồng thừa kế có đến Văn phòng C3 để lập văn bản khai nhận và thoả thuận phân chia di sản vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 thống nhất giao phần đất thuộc quyền thừa kế của các nguyên đơn cho ông H1 nên đã được điều chỉnh sang tên ông Lê Minh H1 vào ngày 11 tháng 9 năm 2012. Xét thấy, khi nhận đất canh tác, ông H1 đã trả tiền nợ Ngân hàng mà cụ Q đã vay còn thiếu số tiền 32.329.339 đồng. Từ khi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 là người canh tác và thờ cúng đến nay. Ngoài ra, ông H1 có ký hợp đồng đặt trụ phát sóng với V còn thời hạn hợp đồng nên án sơ thẩm giao phần đất trên cho ông Lê Minh H1, bà Trần Kim T4, anh Lê Vũ P, chị Nguyễn Nguyễn Thị Cảnh H3. Ngoài ra, hiện nay ông H1 có vay Ngân hàng N1 số tiền 200.000.000 đồng theo hợp đồng vay số: 7501-LAV20230 ngày 16 tháng 02 năm 2023 và Ngân hàng đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H 316510; cấp ngày 20/8/1996 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp (Bút lục số 365-369). Ông H1 có cho ông Châu Minh T7 thuê phần đất 900m² từ năm 2017 với thời hạn 15 năm là chưa hết hạn hợp đồng (Bút lục số 305). Mặt khác, nếu giao phần đất thừa kế cho các nguyên đơn mà chưa xử lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngân hàng đang giữ là không thi hành án được nên không thể giao cho các nguyên đơn bằng quyền sử dụng đất. Do đó, án sơ thẩm quyết định giao giá trị quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn là phù hợp.

[4] Tại phiên toà, bà Lê Thị C1 có cung cấp Đơn xin xác nhận ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Trưởng ấp B, xã Đ, thành phố C xác nhận hộ ông Lê Minh H1 không còn ở địa phương từ cuối năm 2021 để làm căn cứ nhận quyền sử dụng đất thừa kế. Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp sơ thẩm, ông Lê Minh H1, bà Trần Kim T4 có nộp bản tự khai cho Toà án nhân dân thành phố Cà Mau ngày 08 tháng 11 năm 2022 (Bút lục số 123-124) cung cấp địa chỉ ở ấp B, xã Đ. Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo hoà giải được Toà án nhân dân thành phố Cà Mau tống đạt tại địa chỉ ấp B, xã Đ cho con ông H1, bà T4 là ông Lê Vũ P nhận thay vào ngày 02 tháng 11 năm 2022 (Bút lục số 91-92). Bị đơn, ông H1 có uỷ quyền cho ông Cao Quốc T3 tham gia tố tụng tại Toà án cấp sơ thẩm. Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày phần đất do: “Vợ chồng ông H1 quản lý, nhưng sau này giao lại cho con trai, con dâu quản lý, nhưng anh chị em của ông H1 kiếm chuyện nên vợ chồng con trai ông H1 không còn trực tiếp sử dụng nữa, mà thỉnh thoảng đến để thăm nom nhà cửa đốt nhang cho ông bà” (Bút lục số 401). Do đó, không có cơ sở giao phần đất cho các nguyên đơn như nhận định tại đoạn [3].

[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 347/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp. Bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 có nộp tạm ứng án phí mỗi người 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y, bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 347/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc chia thừa kế.

- Giao ông Lê Minh H1 được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt phần đất có diện tích 3.719,2m² thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Giao ông Lê Minh H1 quản lý phần đất có tổng diện tích 272,6m² (căn nhà 104,9m² và mồ mã 167,7m²) làm nơi thờ cúng và phần các ngôi mộ.

(Kèm theo bản vẽ ngày 10/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật công nghệ quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh C).

- Buộc ông Lê Minh H1 có trách nhiệm hoàn trả cho các đồng thừa kế gồm: Lê Văn H, Lê Thị N, Lê Thị Y, Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Thu C, Lê Hoàng G mỗi người với số tiền: 156.519.483 đồng.

- Về chi phí tố tụng: Các ông bà Lê Văn H, Lê Thị N, Lê Thị Y, Lê Minh H1, Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Hoàng G mỗi người có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lê Thu C số tiền là 1.988.440 đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

+ Ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y được miễn nộp án phí theo quy định.

+ Bà Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Thu C, Lê Hoàng G mỗi người phải nộp án phí số tiền 7.826.000 đồng. Ngày 13/10/2022, bà Lê Thị T, Lê Thiên L, Lê Văn T1, Lê Hoàng G mỗi người đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 2.310.000 đồng theo biên lai số 0002177, 0002178, 0002176, 0002175 được đối trừ chuyển thu; bà T, bà L, ông T1, ông G còn phải nộp tiếp mỗi người số tiền 5.516.000 đồng. Ngày 13/10/2022, bà Lê Thu C đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 4.620.000 đồng theo biên lai số 0002174 được đối trừ chuyển thu, bà C còn phải nộp tiếp số tiền 3.206.000 đồng.

+ Ông Lê Minh H1 phải nộp số tiền 8.925.000 đồng (chưa nộp).

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Y được miễn nộp. Bà Lê Thị T, bà Lê Thiên L, bà Lê Thu C, ông Lê Hoàng G, ông Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 30 tháng 9 năm 2024, bà T, bà L, bà C, ông G, ông T1 mỗi người có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo các biên lai thu từ số 0009318 đến 0009322 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 89/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất nói trên thành 10 phần bằng nhau, mỗi nguyên đơn được hưởng 01 kỷ phần là 462,1m2. Riêng bà Lê Thu C được hưởng 02 kỷ phần, các đồng nguyên đơn nhận đất. Giá trị trung bình mỗi kỷ phần được hưởng là 92.420.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger