Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NÔI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/DS-PT

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

V/v “Tranh chấp chia di sản thừa

kế và đề nghị hủy giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;

Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thơm;

Ông Bùi Anh Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 683/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1171/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ I khu T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1948; địa chỉ: Khu H, xóm T, xã T thành phố V, tỉnh Phú Thọ; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu A phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà T2: Bà Nguyễn Thị T.

  3. Chị Nguyễn Thị Tố U, sinh năm: 1986 địa chỉ: Số A đường N, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số A đường N, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Chị Nguyễn Hải V, sinh năm: 1987; địa chỉ: Tổ C, P, quận L, thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện Nay: P503A, Chung cư C, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Vân A, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số D, M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu C, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; có đơn xin xét xử vắng mặt .
  8. Anh Nguyễn Quyết T3, sinh năm 1973; địa chỉ: Phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  9. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  10. Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà T trình bày: Bố mẹ đẻ bà là cụ Nguyễn Hữu Đ1 và cụ Nguyễn Thị L, (Cụ Đ1 chết năm 1995, cụ L chết ngày 28/5/2018), hai cụ không có con nuôi, không có bố mẹ nuôi, bố mẹ đẻ các cụ đều đã chết, hai cụ có 5 người con đẻ: Ông Nguyễn Hữu T1, ông Nguyễn Đông X (Ông X đã chết 2007, có hai người con là chị U và anh Đ), ông Nguyễn Đức S (Ông S đã chết ngày 02/5/2018, có hai người con là chị Hải V và chị Vân A), bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T2; Năm 2018 cụ L chết, cụ L để lại di sản là hai thửa đất: Thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m², Thửa số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m², năm 1999 ông Nguyễn Hữu T1 đã tự ý kê khai hai thửa đất trên, ngày 02/12/1999 ông T1 được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0183762, số vào sổ 0906 QSDĐ 906 (2) nằm trong tổng diện tích đất 2749m² đứng tên ông Nguyễn Hữu T1;

Bà T đề nghị Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0183762, số vào sổ 0906 QSDĐ 906 (2) đối với Thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m², Thửa số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m² nằm trong tổng diện tích đất 2749m² đứng tên ông Nguyễn Hữu T1 và chia di sản thừa kế của cụ L theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất; bà xin nhận suất thừa kế của bà và bà T2 cho bà nên bà xin được nhận hai suất thừa kế của bà và của bà T2 bằng hiện vật là toàn bộ thửa đất số 357 diện tích 151m² và bà thanh toán chênh lệch cho những người thừa kế khác theo giá đã được Tòa án quyết định định giá.

Bị đơn ông là ông Nguyễn Hữu T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Tố U, anh Nguyễn Đức Đ là thế vị của ông Nguyễn Đông X, chị Nguyễn Hải V, chị Nguyễn Vân A là thế vị của ông Nguyễn Đức S thống nhất trình bày: Đều xác định về hàng thừa kế, di sản thừa kế của cụ L để lại như bà T trình bày là đúng, nay bà T đề nghị chia di sản thừa kế của cụ L mọi người đều nhất trí, đều xin nhận suất thừa kế và tặng cho anh Đ, phía anh Đ xin nhận; mọi người đề nghị xin được nhận bằng hiện vật toàn bộ hai thửa đất và thanh toán chênh lệch cho bà T và bà T2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị T2 trình bày quan điểm như sau: Nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà T, bà xin nhận suất thừa kế nếu được chia và tặng cho bà T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố V; Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đều có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Việt H, anh Nguyễn Quyết T3 là con đẻ của ông T1 trình bày quan điểm như sau: Xác định Thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m², Thửa số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m² là di sản của cụ L để lại các anh chị không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.

Tại Bản án sơ dân sự thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ điều 609; 610; 612; 613; 623; 649; 650; 651; 659; Điều 660; Khoản 1 Điều 688 điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T;

Xử:

  1. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0183762, số vào sổ 0906 QSDĐ 906 (2) đối với thửa số 36 tờ bản đồ số 24 diện tích 72m², mục đích sử dụng Đ.R.M và thửa số 357 tờ bản đồ số 12 diện tích 151m² mục đích sử dụng Đ.R.M nằm trong tổng diện tích đất 2749m² đứng tên hộ ông Nguyễn Hữu T1;
  2. Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L để lại gồm: 01 thửa đất số 357 tờ bản đồ số 12 diện tích 151m², mục đích sử dụng đất Đ.R.M và 01 thửa đất số 36 tờ bản đồ số 24 diện tích 72m², mục đích sử dụng đất Đ.R.M;
  3. Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L theo pháp luật mỗi suất thừa kế được hưởng cụ thể như sau:
    • - Ông Nguyễn Hữu T1 được quyền sử dụng 44,6m² đất;
    • - Chị Nguyễn Tố U và anh Nguyễn Đức Đ là thừa kế thế vị của ông Nguyễn Đông X được quyền sử dụng 44,6m² đất;
    • - Chị Nguyễn Hải V và chị Nguyễn Vân A là thừa kế thế vị của ông Nguyễn Đức S được quyền sử dụng 44,6m² đất;
    • - Bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng 44,6m² đất;
    • - Bà Nguyễn Thị T2 được quyền sử dụng 44,6m² đất;
    • + Giao cho anh Nguyễn Đức Đ được quyền trực tiếp sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m²;
    • + Giao cho anh Nguyễn Đức Đ được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên thửa đất số 357 tờ bản đồ số 12 diện tích 151m² là 14 cây xoan và 10 cây sấu, tổng trị giá là 7.359.300đ;
    • + Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m²;

    (Có sơ đồ kèm theo)

  4. Về nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản sau khi chia di sản thừa kế:
    • - Anh Nguyễn Đức Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.109.400đ là giá trị suất thừa kế của bà T2 được hưởng còn thiếu là 17,2m²;
    • - Anh Nguyễn Đức Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 7.359.300đ là giá trị của 14 cây xoan, 10 cây sấu trên thửa đất số 357 tờ bản đồ số 12 diện tích 151m²;
    • - Anh Nguyễn Đức Đ không phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông Nguyễn Hữu T1; chị Nguyễn Tố U là thừa kế thế vị của ông Nguyễn Đông X; chị Nguyễn Hải V, chị Nguyễn Vân A là thừa kế thế vị của ông Nguyễn Đức S vì những người này tự nguyện không yêu cầu;

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo. Sửa bản án sơ thẩm cho nguyên đơn được nhận thửa đất số 357, nguyên đơn bồi hoàn giá trị đất cho bị đơn và nguời liên quan; các cây trồng nhằm để dành cho các con vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.

Bị đơn vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Đơn kháng cáo của những người kháng cáo là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ. Kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận, vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua các tài liệu của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế, tuy nhiên di sản là quyền sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bị đơn là ông Nguyễn Hữu T1; nên nguyên đơn yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được xác định là quan hệ pháp luật Tranh chấp về phân chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy quyết định cá biệt. Căn cứ khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về chia di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế năm 1995 nay còn trong thời hiệu khởi kiện.

- Về nội dung:

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Về quan hệ huyết thống và xác định diện, hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều trình bày thống nhất xác định cụ Nguyễn Thị L (chết ngày 28/5/2018) và cụ Nguyễn Hữu Đ1 (chết năm 1995) có 5 người con đẻ gồm: ông Nguyễn Hữu T1, ông Nguyễn Đông X (ông X đã chết 2007, có hai người con là chị Nguyễn Thị Tố U và anh Nguyễn Đức Đ), ông Nguyễn Đức S (ông S đã chết ngày 02/5/2018, có hai người con là chị Nguyễn Hải V và chị Nguyễn Vân A), bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T2; do ông X, ông S chết trước cụ L, nên nay các con ông X và ông S là thừa kế thế vị tham gia tố tụng.

Di sản thừa kế là hai thửa đất có tổng diện tích là 223m² được chia theo pháp luật làm 5 phần, giá trị đất được định giá có giá là 64.500đ/1m² nên tương ứng mỗi phần là 44,6m² đất trị giá mỗi suất thừa kế trị giá là 2.876.700đ, nếu chia diện tích hai thửa đất trên bằng hiện vật là 5 suất thì không đủ điều kiện để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tách riêng các thửa (diện tích nhỏ hơn 200m²), nếu giao toàn bộ hiện vật hoặc thửa có diện tích lớn hơn cho bà T sử dụng là không phù hợp vì bà T chỉ được quyền sử dụng 2/5 di sản (suất của bà và của suất của bà T2 do bà T2 tặng cho bà T) còn anh Đ được sử dụng 3/5 di sản (suất của ông T1, ông X và ông S, do ông T1 tặng cho anh Đ và những người thừa kế thế vị của ông X và ông S tặng cho anh Đ). Vì vậy, tòa án cấp sơ thẩm giao toàn bộ cho anh Đ được trực tiếp sử dụng thửa đất số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m² và giao cho bà T được trực tiếp sử dụng toàn bộ thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m² là phù hợp với điều kiện kinh tế của các đương sự. Do diện tích đất này chưa đủ 2 suất thừa kế mà bà T được hưởng nên cần buộc anh Đ phải thanh toán cho bà T giá trị 17,2 m2 đất còn thiếu theo suất thừa kế của bà T2 (trị giá là 17,2m²x 64.500đ/1m² = 1.109.000₫);

Ngoài ra hiện nay bà T đang sử dụng đất, (Trồng cây lấy gỗ là: cây sấu, cây xoan) trên đất nên bà kháng cáo yêu cầu được trực tiếp sử dụng thửa đất số 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m² là không có căn cứ vì việc trực tiếp sử dụng đất không phải là nhu cầu thiết yếu đảm bảo mức sống tối thiểu của đời sống. Đồng thời nếu bà T nhận diện tích đất này bà phải thanh toán giá trị chênh lệch cho anh Đ hơn 60 m². Mặt khác, hiện nay bà T đang sử dụng đất sai mục đích, cụ thể mục đích sử dụng của thửa đất này được nhà nước cho phép trồng màu là (Đất ĐRM) theo mùa vụ nhưng bà T lại trồng cây sấu cây xoan là (Cây lâu năm) không theo mùa vụ, như vậy căn cứ vào việc bà T đang sử dụng đất sai mục đích để giao cho bà T được tiếp tục sử dụng thửa đất là không phù hợp.

Về tài sản trên đất tại thửa 357 tờ bản đồ 12 diện tích 151m² là cây cối lâm lộc gồm 14 cây xoan và 10 cây sấu, tổng trị giá là 7.359.300đ (Số cây cối trên thửa đất 357 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà T), còn thửa số 36 tờ bản đồ 24 diện tích 72m² không có tài sản nên không xem xét; do cây cối tại thửa 357 chưa đến kỳ khai thác nên cần giao cho anh Đ được trực tiếp sử dụng và buộc anh Đ phải thanh toán giá trị cho bà T, như vậy buộc anh Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà T số tiền 7.359.300đ là giá trị tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của bà T và số tiền giá trị suất thừa kế của bà T2 còn thiếu là 1.109.400đ, tổng là 8.468.700đ, làm tròn số là 8.469.000đ là có cơ sở, phù hợp với thực tế.

Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh thêm tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T. Đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ
  • - Các đương sự (theo đ/c);
  • - Lưu HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp chia di sản thừa kế và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 89/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger