|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 89/2025/DS-PT Ngày 20-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tấn;
Ông Huỳnh Văn Luật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 679/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc: “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 187/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 572/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Tây S, sinh năm 1978; địa chỉ: số B, đường N, phường G, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 18/02/2025); có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1970; bà Dương Thị Đ, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: số B, đường N, tổ A, khu C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; ông N vắng mặt, bà Đ có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Thái T1, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bà Phạm Thị Thu T có bán gà cho vợ chồng ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ từ năm 2021 đến năm 2023. Hình thức mua bán gà giữa các bên được thực hiện như sau: Bà T chở gà từ tỉnh Tiền Giang lên bán cho ông N và bà Đ, sau đó nhận tiền hoặc có thể sau một vài ngày ông N, bà Đ sẽ trả tiền cho bà T nếu ông N, bà Đ chưa thể thanh toán ngay lúc giao gà. Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến đầu năm 2023, bà T cho ông N, bà Đ nợ tiền mua gà nhiều lần, với tổng số tiền cộng dồn là 1.428.000.000 đồng.
Khoảng giữa tháng 01/2023, ông N và bà Đ liên hệ với bà T mua thêm gà, bà T có đề cập đến khoản tiền mua gà trước đây chưa trả thì ông N và bà Đ năn nỉ bà T bán gà tiếp; ông N và bà Đ hứa sẽ nhanh chóng trả tiền cho bà T do chỗ quen biết và làm ăn đã lâu, nên bà T đồng ý bán thêm. Ngày 19/01/2023, bà T bán gà cho ông N, bà Đ với tổng số tiền là 294.500.000 đồng, bà T có viết giấy tay về khoản tiền 1.428.000.000 đồng nợ trước đây và khoản tiền bán gà đợt này là 294.500.000 đồng, bà Đ có ký và ghi họ tên vào giấy nợ. Tổng cộng ông N và bà Đ nợ bà T số tiền 1.722.500.000 đồng.
Dù chưa trả số tiền còn nợ, nhưng ông N và bà Đ tiếp tục liên hệ với bà T để mua thêm gà, bà T đã giao 03 chuyến gà sau cho ông N và bà Đ, cụ thể:
- Ngày 29/01/2023, bà T giao cho ông N và bà Đ một chuyến gà với tổng số tiền là 116.800.000 đồng; ông N và bà Đ trả cho bà T 81.800.000 đồng, còn nợ lại 35.000.000 đồng.
- Ngày 30/01/2023, bà T giao cho ông N và bà Đ một chuyến gà với tổng số tiền là 124.000.000 đồng. Chuyến này ông N và bà Đ nợ bà T toàn bộ tiền mua gà.
- Ngày 20/6/2023, bà T giao cho ông N và bà Đ một chuyến gà với tổng số tiền là 89.700.000 đồng. Chuyến này ông N và bà Đ nợ bà T toàn bộ tiền mua gà.
Tổng số tiền ông N và bà Đ nợ 03 chuyến gà là 248.700.000 đồng.
Ông N và bà Đ hứa với bà T là đến ngày 26/6/2023 sẽ trả hết toàn bộ số tiền mua gà còn nợ là 1.971.200.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày trả nợ, ông N và bà Đ không trả cho bà T, bà T nhiều lần yêu cầu ông N và bà Đ trả nợ, nhưng ông bà chỉ hứa hẹn, trốn tránh và không trả.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho bà T số tiền mua gà còn nợ là: 1.971.200.000 đồng và yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Tại bản ý kiến và xin vắng mặt ngày 10/8/2023, bị đơn ông Nguyễn Minh N trình bày: Ông N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì ông N không quen biết với nguyên đơn, không tham gia giao dịch như
3
khởi kiện của nguyên đơn. Ông N không biết gì về tờ giấy nợ như nguyên đơn cung cấp cho Tòa án. Vì tuổi cao sức yếu, bệnh tật, đi lại khó khăn nên ông N xin vắng mặt tại các buổi làm việc, xét xử của Tòa án; đồng thời, ông N từ chối tham gia đối chất với các bên liên quan.
3. Bị đơn bà Dương Thị Đ và người đại diện hợp pháp của bà Đ trình bày: Bà Đ không quen biết với nguyên đơn, không tham gia giao dịch, mua bán như khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đ không thừa nhận tờ giấy nợ mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, vì giấy có nét chữ khác nhau, chữ viết của nội dung mượn tiền khác nhau và không thể hiện rõ là bà Dương Thị Đ thiếu tiền của ai; không có chữ ký và họ tên của người cho vay, cho nên giấy thiếu tiền là không hợp pháp, nội dung cũng không có giá trị.
Đối với chứng cứ ghi âm cũng không thể xác định được là giọng nói của bị đơn, cũng không thể hiện được bị đơn có thừa nhận mượn tiền như số tiền trên giấy mượn tiền và đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu. Đối với bản sao kê của Ngân hàng do Tòa án thu thập được, cũng không thấy thể hiện bị đơn có nợ. Giả sử nếu bị đơn có nợ trên bản sao kê thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác, vì hiện tại nguyên đơn cung cấp giấy vay tiền để khởi kiện đòi tiền. Do đó, việc bị đơn thừa nhận không tham gia giao dịch như đơn khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không thừa nhận tờ giấy nợ như nguyên đơn cung cấp cho Tòa là đúng. Vì vậy, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đ không đồng ý. Vì tuổi cao sức yếu đi lại khó khăn nên bà Đ từ chối tham gia đối chất với các bên liên quan.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Dương Thái T1 trình bày: Việc mua bán gà, nợ tiền giữa bà Phạm Thị Thu T (vợ ông T1) và ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ không liên quan đến ông T1, vì bà T làm ăn, mua bán riêng. Do ông T1 không có liên quan đến số nợ này, nên quyền lợi của ông T1 không bị ảnh hưởng và ông T1 không có yêu cầu gì.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 187/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T đối với bị đơn ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán;
- Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Buộc ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho Phạm Thị Thu T số tiền 1.722.500.000 đồng.
4
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ liên đới trả số tiền 248.700.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ liên đới phải nộp 2.211.000 đồng để trả lại cho bà Phạm Thị Thu T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Minh N và bà Dương Thị Đ liên đới phải chịu 63.675.000 đồng.
Bà Phạm Thị Thu T phải chịu 12.435.000 đồng, được khấu trừ số tiền 35.568.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2021/0003325 ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một. Trả lại cho bà Phạm Thị Thu T số tiền 23.133.000 đồng còn thừa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 22/10/2024 bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Dương Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thái T1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Minh N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ trả số tiền 1.971.200.000 đồng mua gà còn nợ. Bà T không yêu cầu Tòa án tính lãi suất đối với bà Đ, ông N, chứng cứ nguyên đơn
5
xuất trình là Giấy ghi nợ “Thứ 5 19./01.2023”; Vi bằng số 15/2023/VB-TPL ngày 20/10/2023 của Văn phòng T2 và 01 đĩa DVD ghi âm cuộc nói qua điện thoại giữa bà Phạm Thị Thu T và bà Dương Thị Đ.
Bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn xác định không quen biết với nguyên đơn, không có giao dịch như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý toàn bộ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp.
[2.1] Xét thấy, đối với Giấy ghi nợ “Thứ 5 19./01.2023” có nội dung: “Chị Dương Thị Đ có thiếu em là 1.428.000.000 một tỷ bốn trăm hai mươi tám triệu. 294.500.000 hai trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ngàn. TC. 1.722.500.000 đồng”, có chữ ký Dương Thị Đ trên giấy ghi nợ. Tại Kết luận giám định số 1271/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C, kết luận: Chữ ký đứng tên Dương Thị Đ, chữ viết họ tên “Dương Thị Đ” dưới chữ ký trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết đứng tên Dương Thị Đ trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra.
Mặt khác, theo sao kê tài khoản ngân hàng của Ngân hàng S1, Chi nhánh T3 – Phòng G thể hiện: Từ ngày 01/7/2022 đến ngày 19/6/2023, bà Dương Thị Đ có chuyển tiền đến số tài khoản số [...] của bà Phạm Thị Thu T mở tại Ngân hàng TMCP S1 tất cả 130 lần. Đồng thời, theo Biên bản xác minh ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, thể hiện: “Trước đây ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1970 bà Dương Thị Đ, sinh năm 1968 có buôn bán gà tại nhà. Khoảng hơn 03 tháng nay vợ chồng bà Đ không còn buôn bán gà nữa, hiện làm gì không rõ”.
Do đó, có căn cứ để xác định giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Thu T và bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ có quan hệ mua bán gà. Khi giao kết hợp đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các bên tham gia hợp đồng mua bán một cách tự nguyện, nội dung thỏa thuận về việc mua bán gà, thanh toán và nhận nợ không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bà Dương Thị Đ có ký vào Giấy ghi nợ “Thứ 5 19./01.2023” nên có cơ sở để xác định bà Đ nợ bà T số tiền 1.722.500.000 đồng mua gà. Về tiền lãi do nguyên đơn không yêu cầu các bị đơn phải trả tiền lãi do chậm trả nợ; đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nghĩa vụ liên đới: Mặc dù, ông N không thừa nhận có giao dịch với bà T và không biết về giấy ghi nợ trên, nhưng ông N và bà Đ là vợ chồng và cùng mua gà với bà T, nên ông N phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà Đ thanh toán tiền mua gà còn nợ cho bà T.
[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên bà Phạm Thị Thu T về yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ trả số nợ mua gà ngày 29/01/2023, ngày 30/01/2023 và ngày 20/6/2023 với tổng số tiền 248.700.000 đồng. Xét thấy, bà T cho rằng sau khi viết Giấy ghi nợ “Thứ 5 19./01.2023", mặc dù chưa trả nợ nhưng ông N và bà Đ có mua thêm 03 chuyến gà vào ngày 29/01/2023, ngày 30/01/2023 và ngày 20/6/2023, bà T tiếp tục giao gà và ông N
6
và bà Đ còn nợ thêm bà T tổng số tiền 248.700.000 đồng. Tuy nhiên, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh bị đơn có mua thêm gà, nguyên đơn có giao gà cho bị đơn nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 248.700.000 đồng.
[2.3] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị Đ: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đ xác định đã trả toàn bộ số nợ cho bà T và không còn nợ tiền của bà T, tuy nhiên bà Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào về việc đã trả nợ số tiền 1.722.500.000 đồng cho bà Phạm Thị Thu T nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ.
Đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh N: Xét thấy, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên việc vắng mặt của ông N được coi là từ bỏ quyền kháng cáo.
Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Dương Thị Đ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh N
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị Đ.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 187/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn bà Dương Thị Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003404 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Nguyễn Minh N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số
7
0003405 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
|
THẨM PHÁN THÀNH VIÊN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Huỳnh Văn Luật |
Nguyễn Minh Tấn |
Nguyễn Thị Huyền |
Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 89/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
