Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HSST

Ngày: 17/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Tính

Ông Nguyên Hồng Vân

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Đoàn Lệ M - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 105/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Hồ Thị T, sinh năm 1969; tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số nhà E L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo : Không; con ông Hồ Văn S (đã chết) và bà Phùng Thị T1 (đã chết); có chồng Nguyễn Thế T2 (đã chết); có 02 con: con lớn nhất sinh năm 1990; con nhỏ nhất sinh năm 1997;

Tiền án : - Ngày 29/11/1999, bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 11 năm tù về tội ‘”Mua bán trái phép chất ma tuý”, năm 2005 được đặc xá (không có hồ sơ lưu Thi hành án dân sự).

- Ngày 21/5/2008, bị Toà án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội ‘’Đánh bạc” chưa chấp hành xong tiền án phí và tiền phạt.

- Ngày 21/01/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 21/5/2008 tội ‘’Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 08 năm 03 tháng. (đã chấp hành xong tiền án phí và tiền phạt).

- Ngày 09/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. (đã chấp hành xong tiền án phí).

Tiền sự : Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 20/11/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

- Chị Ngũ Thị C, sinh năm 1973 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số nhà A Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi thường trú : Lô B, Liền K, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: phòng B, nhà C, Chung Cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Từ ngày 01/5/2024 đến ngày 30/10/2024, Hồ Thị T đã sử dụng tiền cá nhân cho một số người dân trên địa bàn thành phố T vay dưới hình thức vay thăm, thu lãi thăm theo từng ngày, trong vòng 60 ngày, với lãi suất 3.333 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương với mức lãi xuất 121,66%/năm gấp 6,08 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định; Ngoài ra Hồ Thị T còn cho vay tiền dưới hình thức vay tín chấp, thu lãi theo ngày, với lãi suất 6.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương với mức lãi suất 219%/ năm, gấp 10,95 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định. Các khách vay và số tiền thu lời bất chính cụ thể như sau:

1. Từ ngày 01/05/2024 cho đến ngày 30/10/2024, Hồ Thị T cho chị Ngũ Thị C, sinh năm 1973, trú tại số nhà A Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay tiền dưới hình thức vay bát thăm, không cắt trước tiền lãi. Chị C lấy tổng 03 gói thăm, mỗi gói thăm là 30.000.000 đồng, mỗi ngày chị C phải đóng cho T số tiền 600.000 đồng trong thời gian 60 ngày/01 gói thăm. Tổng 03 gói thăm chị C đã

đóng cả gốc và lãi cho T là 108.000.000 đồng (90.000.000đ tiền gốc và 18.000.000đ tiền lãi), trong đó số tiền lãi Hồ Thị T được phép thu theo quy định (không quá 20%/năm) là 2.958.903 đồng, số tiền Hồ Thị T, thu lời bất chính là 15.041.097 đồng.

2. Từ ngày 01/07/2024 đến ngày 09/08/2024, Hồ Thị T cho chị Đoàn Thị H, sinh năm 1984, trú tại lô 20, liền kề A, khu đô thị M, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 565.000.000 đồng dưới hình thức vay tín chấp, với lãi suất 6.000 đồng/01 triệu/01 ngày, không cắt trước tiền lãi, mỗi ngày Hồ Thị Thu T từ chị H số tiền lãi 3.390.000 đồng. Đến ngày 09/8/2024, chị H đã trả cho Hồ Thị T 40 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 135.600.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng), chị H thỏa thuận xin T dừng tính lãi và xin trả dần số tiền gốc được T đồng ý. Tính đến thời điểm ngăn chặn (14/11/2024), tổng số tiền lãi Hồ Thị T đã thu từ chị H là 135.600.000₫ (một trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng), trong đó số tiền lãi được phép thu theo quy định (không quá 20%/năm) là 12.383.562 đồng, số tiền thu lời bất chính đã thu là 123.216.438 đồng. Chị H đã trả cho T 200.000.000đ tiền gốc, còn nợ lại 365.000.000 đồng.

Như vậy, trong thời gian từ ngày 01/05/2024 đến ngày 30/10/2024, Hồ Thị T đã sử dụng số tiền 655.000.000đ cho 02 khách vay với lãi suất cao, thu được tổng số tiền lãi là 153.600.000 đồng. Trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/năm là 15.342.465 đồng, số tiền đã thu lời bất chính là 138.257.535 đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Ngũ Thị C và chị Đoàn Thị H. Chị H yêu cầu Hồ Thị T trả lại số tiền thu lời bất chính của chị H. Chị Ngũ Thị C không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 44/Ctr-VKSTPTH ngày 17/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hồ Thị Thu về tội‘”Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS.

Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 2 Điều 201 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 - BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị T từ 15 tháng đến 18 tháng tù .

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS phạt tiền bị cáo từ 50.000.000₫ - 70.000.000₫ sung quỹ nhà nước.

- Về các biện pháp tư pháp:

Truy thu số tiền gốc 290.000.000đ Hồ Thị T sử dụng cho 02 khách vay, để sung quỹ nhà nước.

Truy thu 365.000.000đ của chị Đoàn Thị H, là số tiền gốc chị H vay của Hồ Thị T nhưng chưa trả cho Hồ Thị T, sung quỹ nhà nước.

Truy thu của Hồ Thị T 15.342.465 đồng, là số tiền lãi trong phạm vi pháp luật cho phép, nộp ngân sách nhà nước;

Đối với số tiền Hồ Thị Thu thu lời bất chính 138.257.535 đồng. Trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Ngũ Thị C và chị Đoàn Thị H không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Về lời khai và tại phiên toà hôm nay với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 01/5/2024 đến ngày 30/10/2024, Hồ Thị T đã sử dụng tổng số tiền 655.000.000₫ cho chị Ngũ Thị C và chị Đoàn Thị H vay với lãi suất cao, tương đương mức lãi suất 121,66%/năm và 219%/năm, gấp 6,08 lần và 10,95 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, thu được tổng tiền lãi là 153.600.00đ, trong đó số tiền được thu theo quy định 20%/01 năm là 15.342.465đ, số tiền thu lời bất chính là 138.257.535₫.

[3] Xét tính chất vụ án: Tệ nạn cho vay nặng lãi đang lan rộng trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Mặc dù đã được lực lượng Công an triệt phá nhiều tụ điểm và thông qua công tác xét xử đã tuyên truyền sâu rộng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các tội phạm tiếp theo, bị cáo biết nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh

vực kinh doanh tiền tệ mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tiền án:

- Ngày 29/11/1999, bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 11 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Ngày 21/5/2008, bị Toà án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội "Đánh bạc”.

- Ngày 21/01/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 21/5/2008 tội ‘’Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 08 năm 03 tháng.

- Ngày 09/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 năm tù về tội ‘’Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội phải chịu tình tiết tăng nặng ‘’Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đến công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- BLHS. Vì vậy xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hồ Thị T phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về các biện pháp tư pháp:

Đối với 655.000.000 đồng tiền gốc Hồ Thị T cho vay lấy lãi là phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Hiện tại Hồ Thị T mới thu được 290.000.000 đồng, còn 365.000.000 đồng chưa thu lại được do người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Đoàn Thị H chưa thanh toán xong. Như vậy, truy thu của Đoàn Thị H để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 365.000.000 đồng.

Đối với số tiền lãi Hồ Thị T được nhận theo lãi suất quy định tại Điều 468 của BLDS tương ứng với 20%/năm là 15.342.465 đồng, hiện những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thanh toán hết cho Hồ Thị T. Đây là số tiền

phát sinh từ tội phạm do đó cần truy thu của bị cáo để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước đối với số tiền trên.

Đối với số tiền lãi Hồ Thị Thu thu vượt quá quy định là 138.257.535 đồng, hiện những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thanh toán hết cho Hồ Thị T. Đây là số tiền bị cáo có được từ việc thu lời bất chính của người vay, căn cứ vào Điều 468 của BLDS quy định: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Quá trình điều tra xác định những người vay sử dụng tiền vay vào mục đích hợp pháp. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính cần được trả lại cho người vay tiền. Cụ thể là: Chị Ngũ Thị C: 15.041.097 đồng; chị Đoàn Thị H: 123.216.438 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử, chị C và chị H không có yêu cầu, đề nghị được trả lại số tiền thu lời bất chính mà Hồ Thị T đã thu của chị C và chị H nên cần chấp nhận sự tự nguyện của những người liên quan.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 ; khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21 ; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án ; Mục 1, phần 1 Danh mục án phí Toà án.

Tuyên bố : Bị cáo Hồ Thị T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt : Hồ Thị T 15 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14/11/2024.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 50.000.000đ để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Về biện pháp tư pháp :

Truy thu từ bị cáo Hồ Thị T số tiền 290.000.000 đồng (là phương tiện dùng vào việc phạm tội) và 15.342.465 đồng (tiền lãi được phép thu theo quy định). Tổng số tiền phải truy thu là 305.342.465 đồng (làm tròn số: 305.342.000 đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Truy thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đoàn Thị H để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 365.000.000 đồng.

Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ngũ Thị C và chị Đoàn Thị H không yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.

Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Thị Thu phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận :

  • - TAND Tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND TP Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Thanh Hoá;
  • - Cơ quan THAHS TP Thanh Hoá ;
  • - Cơ quan THADS TP Thanh Hoá ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ về hình sự sơ thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 89/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger