TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/DS-PT Ngày 12 tháng 12 năm 2024 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hán Hưởng;
Ông Nguyễn Quang Vũ.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 84/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2024/QĐ-PT ngày 23/10/2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị P, sinh năm 1966
Nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Phùng Đức C, sinh năm 1981
Nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(bà P, anh C có mặt )
Người kháng cáo: Bà Hà Thị P – là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Hà Thị P trình bày:
Năm 2018, bà có cho anh Phùng Đức C vay tổng số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), cụ thể: Lần 1: Tháng 8/2018, anh C vay 50.000.000đ có giấy vay tiền; Lần 2: Tháng 9/2018, anh C vay 50.000.000đ có giấy vay tiền; Lần 3: Tháng 10/2018, anh C vay 10.000.000₫ bằng miệng không có giấy vay tiền. Từ đó đến tháng 6/2023, anh C mới trả cho bà 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) và trả làm 04 lần: Lần 1, anh C trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào 27/12/2022 (âm lịch); Lần 2 anh C trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào tháng 3/2023; Lần thứ 3 anh C trả 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) vào tháng 5/2023; Lần thứ 4 anh C trả 3.000.000đ (Ba triệu đồng) vào 01/6/2023.
Bà P yêu cầu anh C phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền còn lại là 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) và phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của Nhà nước từ thời điểm tháng 6/2023 đến nay.
Tại bản tự khai và các lời khai tại Toà án, bị đơn anh Phùng Đức Công trình B:
Anh xác nhận anh có vay của bà Hà Thị P tổng số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) vay làm nhiều lần như bà P đã trình bày. Tuy nhiên, sau đó anh đã trả tiền cho bà P cụ thể các lần trả tiền như sau: Lần 1, trả 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) vào ngày 19/4/2023; Lần 2 trả 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) vào ngày 31/5/2023; Lần 3 trả 42.000.000₫ (Bốn mươi hai triệu đồng) vào ngày 07/6/2023. Các lần trả tiền cho bà P, anh đều cho bà P ký nhận tiền vào 01 quyển sổ. Ngoài ra, anh còn trả cho bà P 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào thời điểm cuối năm 2022 âm lịch, tuy nhiên anh và bà P không viết giấy tờ gì. Do vậy, anh C khẳng định đã trả bà P tổng số tiền 107.000.000đ (Một trăm linh bảy triệu đồng) anh chỉ còn nợ bà P số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) và đồng ý trả số tiền còn nợ là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng), tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm anh C đồng ý trả cho bà P số tiền 8.000.000đồng và tiền lãi tính từ ngày 07/6/2023 theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Phùng Đức C giao nộp cho Toà án một quyển vở ô ly Hồng H có bìa màu vàng, tại trang 1 và trang 3 thể hiện nội dung: Ngày 19/4/2023, trả gốc cho cô Hà Thị P số tiền 25.000.000 đồng; Ngày 31/5/2023, trả gốc cho cô Hà Thị P số tiền 35.000.000 đồng; Ngày 07/6/2023, trả gốc cho cô Hà Thị P số tiền 42.000.000 đồng. Dưới các nội đều ghi “Người nhận tiền” ký “P” và ghi họ tên “Hà Thị P”.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tiếp cận, công khai chứng cứ, bà Hà Thị P cho rằng chữ viết và chữ ký “P - Hà Thị P” dưới phần người nhận tiền không phải do bà viết, bà yêu cầu Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký chữ viết dưới mục người nhận tiền trên tài liệu chứng cứ do anh C giao nộp. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Chữ ký dạng chữ viết “Phi” và các chữ “Hà Thị P” dưới mục “Người nhận tiền” tại trang 01 và trang 03 trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của bà Hà Thị P trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký và viết ra”.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 22/7/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận đối với yêu cầu trả 96.338.600đ (Chín mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: 87.000.000đ (Tám mươi bảy triệu đồng) tiền gốc và lãi là 9.338.600đ (Chín triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng).
- Xác nhận anh Phùng Đức C đã trả cho bà Hà Thị P số tiền 102.000.000₫ (Một trăm linh hai triệu đồng). Buộc anh Phùng Đức C phải trả nốt cho bà Hà Thị P số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) và tiền lãi là 558.000đ (Năm trăm năm mươi tám nghìn đồng). Tổng cộng: 8.558.000 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
Bà Hà Thị P phải chịu 4.817.000₫ (Bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003679 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Bà Hà Thị P còn phải nộp số tiền 2.817.000₫ (Hai triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng).
Anh Phùng Đức C phải chịu 428.000₫ (Bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Bà Hà Thị P phải chịu 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) tiền chi phí giám định. Xác nhận bà Hà Thị P đã nộp đủ khoản tiền này.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/8/2024, bà Hà Thị Phi C1 không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P buộc anh Phùng Đức C phải trả cho bà số tiền 95.000.000đồng và tiền lãi từ 01/6/2023 đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Hà Thị Phi G nguyên kháng cáo và những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà P và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Kháng cáo của bà P là nguyên đơn trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung kháng cáo: Bà P kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc anh Phùng Đức C phải trả cho bà số tiền 95.000.000đồng và tiền lãi từ 01/6/2023 đến nay.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Bà P khởi kiện yêu cầu anh C phải trả cho bà số tiền gốc còn lại 95.000.000đồng và tiền lãi: Căn cứ pháp lý bà P xuất trình cho Tòa án để yêu cầu đó là 02 giấy biên nhận nợ lần 1 ngày 06/8/2018 số tiền 50.000.000đồng và ngày 10/9/2018 số tiền 50.000.000đồng và 01 lần vay không giấy số tiền 10.000.000đồng, bà P xác nhận số tiền anh C đã trả cho bà 15.000.000đồng. Phía anh C thừa nhận vay bà P 110.000.000đồng. Anh cho rằng anh đã trả cho bà P tổng số tiền 102.000.000đồng, số tiền nợ gốc còn lại anh nợ bà P là 8.000.000đồng. Chứng cứ pháp lý anh xuất trình cho Tòa án là cuốn sổ anh ghi số tiền anh đã trả cho bà P có chữ ký xác nhận của bà P và đã được giám định kết luận xác định đúng là chữ ký của bà P. Mặc dù bà P không thừa nhận số tiền 102.000.000đồng anh C trình bày đã trả cho bà P nhưng căn cứ tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp cho Tòa án xác định anh C đã trả bà P số tiền gốc 102.000.000đồng, số tiền gốc anh C còn nợ lại bà P là 8.000.000đồng. Do vậy, kháng cáo của bà P yêu cầu anh C phải trả cho bà số tiền nợ gốc 95.000.000đồng không được chấp nhận.
Về tiền lãi: Tại phiên tòa phúc thẩm anh C trình bày khi vay tiền bà P hai bên thỏa thuận lãi 3.500.000đồng/tháng/100.000.000đồng. Bà P trình bày lãi hai bên thỏa thuận 1%/ tháng. Anh C xác định đã trả hết gốc 102.000.000đồng và tiền lãi đến ngày 07/6/2023. Bà P đề nghị tính lãi từ tháng 6/2023 đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy: Về lãi suất hai bên không thống nhất được thỏa thuận về lãi, do có tranh chấp về lãi suất, nên theo quy định của Bộ luật dân sự lãi suất được tính không vượt quá 10%/năm. Tại phiên tòa phúc thẩm, cả bà P, anh C đều thống nhất trình bày thời hạn vay tại giấy vay thứ nhất không ghi thời hạn, nhưng thời hạn vay được hai bên thống nhất từ giấy vay lần thứ hai cả 02 giấy vay là 1 năm. Do vậy, đến 07/6/2023 anh C không trả được cho bà P tiền gốc còn nợ lại là 8.000.000đồng, nên lãi suất được tính lãi quá hạn là 15%/năm. Buộc anh C phải trả tiền lãi cho bà P, thời hạn từ 07/6/2023 đến 22/7/2024 là 8.000.000đồng x 01 năm 01 tháng 15 ngày x 15%/năm = 1.350.000đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự mới xuất trình cho Hội đồng xét xử chứng cứ mới thỏa thuận về lãi suất, nên lãi suất được tính lại theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà P mà chỉ chấp nhận một phần kháng cáo về lãi suất.
[3] .Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà P.
Nội dung cần rút kinh nghiệm đối với bản án sơ thẩm: Bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật kiện đòi tài sản là không chính xác, đối với yêu cầu khởi kiện của bà P khởi kiện yêu cầu anh C phải trả khoản tiền anh C đã vay bà P. Do vậy, phải xác định quan hệ pháp luật là: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” mới chính xác.
Phần quyết định của bản án tuyên phần lãi suất chậm thanh toán: “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” là không đúng với quy định của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Trường hợp này tuyên lãi suất chậm trả theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết, nghĩa vụ chậm thực hiện trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận lãi suất phải được tuyên: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Phần quyết định của bản án tuyên không rõ ràng: “Không chấp nhận đối với yêu cầu trả 96.338.600đ (Chín mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: 87.000.000đ (Tám mươi bảy triệu đồng) tiền gốc và lãi là 9.338.600đ (Chín triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng)”. Nội dung này cần được sửa lại cách tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị P yêu cầu anh Phùng Đức C trả 96.338.600đ (Chín mươi sáu triệu ba trăm ba mơi tám nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: 87.000.000đ (Tám mươi bảy triệu đồng) tiền gốc và lãi là 9.338.600đ (Chín triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng)”.
Đối với các nội dung trên cần được rút kinh nghiệm với Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Hà Thị Phi . Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[2]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị P yêu cầu anh Phùng Đức C trả 96.338.600đ (Chín mươi sáu triệu ba trăm ba mơi tám nghìn sáu trăm đồng). Trong đó: 87.000.000đ (Tám mươi bảy triệu đồng) tiền gốc và lãi là 9.338.600đ (Chín triệu ba trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng).
[3]. Xác nhận anh Phùng Đức C đã trả cho bà Hà Thị P số tiền 102.000.000đ (Một trăm linh hai triệu đồng). Buộc anh Phùng Đức C phải trả nốt cho bà Hà Thị P số tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) và tiền lãi là 1.350.000₫ (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cộng: 9.350.000 đồng (Chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
[4]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Hà Thị P phải chịu 4.817.000₫ (Bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003679 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Bà Hà Thị P còn phải nộp số tiền 2.817.000đ (Hai triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng).
Anh Phùng Đức C phải chịu 467.000đ (Bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Hà Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà P 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003811 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
[5]. Về chi phí tố tụng: Bà Hà Thị P phải chịu 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) tiền chi phí giám định. Xác nhận bà Hà Thị P đã nộp đủ khoản tiền này.
[6]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 89/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 89/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hà Thị P - Anh Phùng Đức C - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản