|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Phạm Thị Diệu Hạnh- Chuyên viên Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Sông Công, Thái Nguyên
- + Ông Nguyễn Văn Tiến- Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Sông Công, Thái Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 11/12/2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Văn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 7 năm 2007 (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 tuổi 06 tháng 14 ngày tuổi); Nơi thường trú: TDP Trung, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Sán dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn T (Đã chết) và bà: Lâm Thị S, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: 02. Ngày 24/7/2023 bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Ngày 08/12/2023, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, hình thức phạt: Cảnh cáo.
Nhân thân : Ngày 04/9/2024 bị Công an T9, Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích với số tiền 2.500.000đồng; Quyết định khởi tố bị can số 158/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 15/5/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25/9/2007 (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 tuổi 04 tháng 07 ngày tuổi); Nơi thường trú: xóm B, phường P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2 và bà: Đàm Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/9/2024 bị Công an T9, Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích với số tiền 2.500.000đồng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 15/5/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Đức H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/10/2007 (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 tuổi 03 tháng 28 ngày tuổi); Nơi thường trú: Xóm X, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T3 và bà: Đào Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 164/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 16/5/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn Tấn M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07/7/2007 (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 tuổi 06 tháng 25 ngày tuổi); Nơi thường trú: TDP S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T4 (đã chết) và bà: Phạm Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 11/4/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
5. Họ và tên: Đỗ Tùng D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/3/2007 (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 tuổi 10 tháng 20 ngày tuổi); Nơi thường trú: TDP C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn D1 và bà: Trần Thị N1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 11/4/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương; có mặt.
* Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo :
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đặng Văn Tuấn A: Bà Lâm Thị S, sinh năm 1976 (là mẹ đẻ của bị cáo); Trú tại: Tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tấn M: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1982 (là mẹ đẻ của bị cáo); T5 tại: Tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Tùng D: Ông Đỗ Văn D1, sinh năm 1982 và bà Trần Thị N1, sinh năm 1986 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); Đều trú tại: Tổ dân phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; đều có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc T1: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979 và bà Đàm Thị N, sinh năm 1980 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); Đều trú tại: Xóm B, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; ông T2 vắng mặt, bà N có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Đức H: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1981 và bà Đào Thị H1, sinh năm 1983 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); Đều trú tại: Xóm X, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; đều vắng mặt.
* Những người bào chữa cho các bị cáo
- - Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Tuấn A, Nguyễn Ngọc T1: Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1962 – Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn M, Nguyễn Đức H: Bà Mạc Thị H2, sinh năm 1965 – Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Tùng D: Ông Vũ Văn S1, sinh năm 1966 – Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Đỗ Văn D1, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 2000; Trú tại: Xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- - Anh Mai Ngọc Q, sinh năm 1999 (chồng chị H3); Trú tại: Xóm B, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Phạm Thị P, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- - Bà Trần Thị N1, sinh năm 1986; có mặt Trú tại: Tổ dân phố C, phường B, thành phố P, Thái Nguyên;
- - Bà Đào Thị H1, sinh năm 1983; vắng mặt Trú tại: Xóm X, xã T, thành phố P, Thái Nguyên
- - Bà Đàm Thị N, sinh năm 1980; có mặt. Trú tại: Xóm B, xã P, thành phố P, Thái Nguyên
- - Bà Lâm Thị S, sinh năm 1976; vắng mặt.
Trú tại: Tổ dân phố T, phường B, thành phố P, Thái Nguyên;
- - Anh Lê Minh H4, sinh năm 2007; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn B1, sinh năm 1979 và bà Trịnh Thị N2, sinh năm 1981 (là bố, mẹ đẻ của H4); có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm N, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 2006; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1973 và bà Lê Thị T6, sinh năm 1974 (là bố, mẹ đẻ của K); vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm Đ, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- - Anh Hà Tùng A1, sinh năm 2007; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hà Quang H6, sinh năm 1983 và bà Đào Thị T7, sinh năm 1984 (là bố, mẹ đẻ của Tùng A1); vắng mặt.
Trú tại: TDP L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- - Anh Đồng Quang H7, sinh năm 2002; Trú tại: Xóm C, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- - Anh Đào Tiến M1, sinh năm 2000; Trú tại: TDP X, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- - Anh Đồng Công M2, sinh năm 2006; Trú tại: Xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Duy T8, sinh năm 2008; Trú tại: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Duy H8, sinh năm 1978 và bà Lý Thị M3, sinh năm 1980 (là bố, mẹ đẻ của T8); Đều trú tại: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đêm ngày 01/02/2024, Đặng Văn Tuấn A, Đỗ Tùng D, Nguyễn Đức H, Nguyễn Tấn M, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Duy T8 (sinh ngày 20/6/2008, trú tại xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên), cùng nhau đến quán nước ở khu vực sân bóng phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên chơi và rủ nhau đến tối ngày 02/02/2024 đi chơi trên các tuyến đường ở thành phố S thì cả nhóm đồng ý.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, Tuấn A điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20H1-526.29 chở T1 cầm theo 01 con dao, dài khoảng 50cm cất giấu vào trong áo. D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu tím than, BKS: 20H1-624.23 chở H cầm theo 02 vỏ chai thuỷ tinh. M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu cam không lắp biển kiểm soát chở T8 cầm theo 03 vỏ chai mục đích khi đi trên đường gặp ai trêu và chửi thì sẽ sử dụng vỏ chai để ném và đuổi đánh. Khi đi đến thành phố S, cả nhóm điều khiển xe đi theo đường Cách Mạng Tháng Tám hướng đi ra Ngã tư V thành phố S, khi đi đến quảng trường thành phố S, nhóm của Tuấn A bị 02 nam thanh niên
(không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen đi nhanh, tạt đầu, đánh võng nên cả nhóm đuổi theo và T8 ném 01 vỏ chai thuỷ tinh về hướng hai người này nhưng không trúng rồi cả nhóm tiếp tục đi hướng về Ngã tư Việt Đức. Lúc này, Đồng Công M2 (sinh ngày 30/01/2006, trú tại xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) và Lê Minh H4 (sinh năm 2007, trú tại xóm N, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đang chơi ở quảng trường thấy nhóm của Tuấn A tưởng là người quen nên M2 điều khiển xe mô tô BKS: 20L1-003.14 chở H4 đuổi theo để đi cùng. Khi đi đến đoạn đường phía trước cửa quán H9 thuộc phường T, thành phố S, Đồng Công M2 điều khiển xe vượt lên phía trước đầu xe của nhóm Tuấn A rồi hỏi “các anh đi đâu cho em đi cùng với” nhưng không ai trả lời. Lúc này, Nguyễn Duy T8 cầm 01 vỏ chai thuỷ tinh ném về phía Đồng Công M2 và H4 nhưng không trúng, vỏ chai rơi xuống đường nhưng không bị vỡ. Thấy vậy, Đồng Công M2 tăng ga điều khiển xe bỏ chạy về hướng ngã tư V, lúc này nhóm của Tuấn A đuổi theo xe của Đồng Công M2, T8 và Tuấn A hô to “dừng lại, dừng lại”, sau đó Tuấn A điểu khiển xe áp sát phía ngoài, Nguyễn Tấn M điều khiển xe áp sát phía sau xe của Đồng Công M2, còn D điều khiển xe vượt lên thì Đồng Công M2 dùng chân phải đạp vào yếm phải xe mô tô của D để ngăn cản không cho xe D vượt lên làm xe mô tô của D loạng choạng. Lúc này, H cầm vỏ chai thuỷ tinh ném 01 phát trúng vào đuôi xe của Đồng Công M2, T8 cầm vỏ chai ném trúng vào lưng của H4 làm vỏ chai bia rơi xuống vỡ thành nhiều mảnh rơi trên mặt đường, còn T1 ngồi sau xe của Tuấn A và dùng dao chém 02 phát về phía H4 nhưng không trúng. Sau đó, Đồng Công M2 điều khiển xe mô tô chở H4 tăng ga bỏ chạy hướng Ngã tư V thì Tuấn A điều khiển xe chở T1 cầm dao đuổi theo hướng Ngã tư V, đuổi được 485m đến đoạn phía trước số nhà C thuộc tổ A, phường T, thành phố S thì xe của Tuấn A đuổi kịp, đi song song cách xe của Đồng Công M2 khoảng 01 mét, T1 ngồi sau dùng dao chém 01 nhát trúng vào cổ tay trái của H4 làm H4 bị rách da và đứt gân ngón I. Sau đó, Đồng Công M2 tiếp tục tăng ga bỏ chạy, Tuấn A đuổi theo nhưng không kịp nên quay xe lại thì gặp Nguyễn Tấn M, T8, D và H tại ngã ba Phố C, rồi cả nhóm cùng nhau đi đến huyện Q, tỉnh Bắc Ninh để trốn. Còn Lê Minh H4 được Đồng Công M2 đưa đến Bệnh viện C điều trị (đến ngày 15/02/2024 được ra viện) và trình báo đến Cơ quan điều tra Công an thành phố T9 để giải quyết theo quy định.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hồi 00 giờ 10 phút ngày 03/02/2024, cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra sự việc tại đường C thuộc tổ A, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Tình trạng hiện trường đã bị xáo trộn do hoạt động của các phương tiện và người tham gia giao thông.
Hướng Đông tiếp giáp với hành lang đường tiếp đến là quán D2 bánh sinh nhật và các quán bán hàng khác thuộc tổ X, phường C, thành phố S.
Hướng Tây tiếp giáp với hành lang đường tiếp đến là nhà số B D và các nhà, quán khác thuộc tổ A, phường T, thành phố S.
Hương Bắc, N3 là đường C. Khu Đ được trải nhựa bằng phẳng rộng 10,2m, hướng Tây bên phải đường hướng từ đảo tròn Sông Công đi ngã ba phố C là đường bê tông đi hướng khu đô thị H.
Hiện trường cụ thể: căn cứ lời khai, lời trình bày của Đồng Công Minh xác định vị trí các đối tượng ném vỏ chai thuỷ tinh vào ngày 02/02/2024 là vị trí trên đường C, đối diện nhà số B D, cách mép đường bên phải hướng đảo tròn Sông Công đi ngã ba phố Cò 4,5m (Ký hiệu số 1).
Tại vị trí sát mép đường bên trái hướng đảo tròn S đi ngã ba Phố C thuộc địa phận tổ X, phường C, thành phố S hành lang đường, cách vị trí số 1 là 5,5m, phát hiện mảnh vỡ thuỷ tinh màu xanh trên diện 20 x 15cm (Ký hiệu số 2).
Quá trình khám nghiệm hiện trường có thu giữ các mảnh vỡ thuỷ tinh màu xanh có kích thước khác nhau.
Ngày 22/3/2024, cơ quan CSĐT Công an thành phố T9 ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích của Lê Minh H4. Tại kết luận giám định số 208/KLTTCT-TTPY ngày 26/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:
1. Các kết quả chính: Hiện tại có 01 sẹo vết thương phần mềm KT nhỏ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Minh H4 tại thời điểm giám định là 1%.
Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn Tuấn A, Đỗ Tùng D, Nguyễn Đức H, Nguyễn Tấn M và Nguyễn Ngọc T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng, kết luận giám định.
Vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20 H1-526.29, đã qua sử dụng, số khung: 3911LY046988, số máy: JA39E1382602; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20H1-624.23, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3928NY180683, số máy: JA39E2677659; 01 bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa dấu vết màu nâu đỏ, đã khô (nghi máu); mảnh vỡ thuỷ tinh màu xanh. Hiện đang được chuyển bảo quản theo quy định.
Đối với 01 đĩa DVD chứa nội dung hình ảnh camera ghi lại diễn biến vụ gây rối trật tự công cộng ngày 02/02/2024 được niêm phong trong bì ký hiệu AB1, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn D1 xin được nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20H1-624.23, chị Nguyễn Thị H3 xin được nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20 H1-526.29, do đều không biết các bị cáo Đỗ Tùng D, Nguyễn Ngọc T1 mang xe đi để thực hiện hành vi phạm tội. Bà Phạm Thị P (mẹ đẻ bị cáo M), bà Trần Thị N1 (mẹ đẻ bị cáo D), bà Đào Thị H1 (mẹ đẻ bị cáo H), bà Đàm Thị N (mẹ đẻ bị cáo T1), bà Lâm Thị S (mẹ đẻ bị cáo Tuấn A) đều xác định mỗi gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Lê Minh H4 số tiền 11.000.000đồng, tổng số tiền bồi thường là 55.000.000đồng, không đề nghị các bị cáo hoàn lại số tiền trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động nhờ gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho Lê Minh H4, nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Đối với bị cáo Đặng Văn Tuấn A: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Tấn M: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Đức H: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Đỗ Tùng D: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận thỏa thuận bồi thường dân sự giữa các bị cáo đối với anh Lê Minh H4.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS
- - Trả cho chị Nguyễn Thị H3 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20 H1-526.29.
- - Trả cho ông Đỗ Văn D1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20H1-624.23.
Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa dấu vết màu nâu đỏ, đã khô (nghi máu);
- + mảnh vỡ thuỷ tinh màu xanh.
Về án phí: Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Bị cáo, đại diện hợp pháp, người bào chữa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là không oan, đúng người, đúng tội.
Người bào chữa trình bày tranh luận và đối đáp của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công:
- - Ý kiến của bà Hoàng Thị B (người bào chữa cho bị cáo Tuấn A, T1): Nhất trí với với tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, cho hai bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Ý kiến của bà Mạc Thị H2 (người bào chữa cho bị cáo M, H): Nhất trí với với tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt 02 bị cáo ở mức khởi điểm của luận tội.
- - Ý kiến của ông Vũ Văn S1 (người bào chữa cho bị cáo D): Nhất trí với với tội danh và điều luật áp dụng. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó vai trò của bị cáo D là không đáng kể. Bị cáo có nhân thân tốt. Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Viện kiểm sát giữ nguyên luận tội, không đối đáp gì thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T9, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 02/02/2024, tại đoạn đường trước cửa quán 88 đoạn thuộc phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên là nơi đông dân cư sinh sống, nơi có nhiều người, phương tiện tham gia giao thông trên đường, Đặng Văn Tuấn A điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Ngọc T1 cầm theo 01 con dao, dài khoảng 50cm, Đỗ Tùng D điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức H cầm theo 02 vỏ chai thuỷ tinh, Nguyễn Tấn M điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Duy T8 cầm theo 03 vỏ chai đã có hành vi đi nhanh, lạng lách, đánh võng, la hét trên đường và đuổi đánh Đồng Công M2 điều khiển xe mô tô chở Lê Minh H4, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây thương tích cho Lê Minh H4 có tỷ lệ thương tích là 01%, thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội"Gây rối trật tự công cộng", được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Nội dung điều luật như sau:
Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng.
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- a) .....;
- b) Dùng ... hung khí.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, cần xử phạt bằng pháp luật hình sự để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
mình, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Lê Minh H4 nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Nguyễn Tấn M có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; Kỷ niệm chương của Hội C1.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Về tiền sự, nhân thân của các bị cáo:
- + Bị cáo Đặng Văn Tuấn A có 02 Tiền sự, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, hình thức phạt: Cảnh cáo. Đồng thời có nhân thân bị Công an T9, Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Quyết định khởi tố bị can số 158/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có nhân thân bị Công an T9, Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích
- + Bị cáo Nguyễn Đức H có nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 164/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Nguyễn Tấn M có nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-ĐCSHS ngày 03/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Thái Nguyên về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội dưới 18 tuổi, sẽ được áp dụng chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Đặng Văn Tuấn A là người có nhân thân xấu, chở theo Nguyễn Ngọc T1 bằng xe mô tô có hành vi truy đuổi xe của Đồng Công M2 và Lê Minh H4; bị cáo Nguyễn Ngọc T1 là người trực tiếp cầm dao chém gây thương tích cho H4, hai bị cáo đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này. Cần xử phạt hai bị cáo nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác. Bị cáo Nguyễn Đức H có hành vi ném vỏ chai thủy tinh vào xe của Đồng Công M2 gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Bị cáo Đặng Văn Tuấn A, Nguyễn Đức H, Nguyễn Tấn M đều đang bị khởi tố về tội phạm cùng loại.
Tuy nhiên cũng xem xét đến việc các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có bị cáo thiếu sự chăm sóc, giáo dục sát sao của gia đình,
nên xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng, cho các bị cáo cơ hội cải tạo trở thành người công dân có ích.
Đối với bị cáo Đỗ Tùng D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên đủ điều kiện để miễn chấp hành hình phạt tù, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận thỏa thuận bồi thường dân sự giữa gia đình các bị cáo và anh Lê Minh H4 với số tiền 55.000.000đồng. Anh H4 và đại diện hợp pháp; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng: Số vật chứng là hung khí, vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Số vật chứng thu giữ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần trả lại cho chủ sở hữu.
[8] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn:
Áp dụng Điều 123, 124 Bộ luật tố tụng hình sự: cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Đặng Văn Tuấn A; Nguyễn Ngọc T1; Nguyễn Đức H; Nguyễn Tấn M để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với Đặng Văn Tuấn A là người chở Nguyễn Ngọc T1 đuổi theo xe của anh Đồng Công M2 chở anh Lê Minh H4. Khi đuổi kịp T1 đã cầm dao chém gây thương tích cho anh Lê Minh H4 là 01%. Quá trình điều tra gia đình các bị cáo Đặng Văn Tuấn A, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Đức H, Nguyễn Tấn M và Đỗ Tùng D đã cùng nhau bồi thường cho anh Lê Minh H4 số tiền 55.000.000 đồng. Gia đình anh Lê Minh H4 đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin rút đề nghị khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Công an thành phố T9 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Văn Tuấn A và Nguyễn Ngọc T1, theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Trong vụ án này có Nguyễn Duy T8 khi thực hiện hành vi phạm tội T8 chưa đủ 16 tuổi (Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội T8 mới đủ 15 tuổi, 07 tháng 12 ngày) nên không xem xét, xử lý đối với T8 về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Cơ quan điều tra đã lập hồ sơ đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T8. Ngày 01/8/2024, Toà án nhân dân thành phố Sông Công ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, thời hạn 18 tháng.
Đối với Đồng Công M2 có hành vi dùng chân đạp vào xe của Đỗ Tùng D làm xe của D loạng choạng và có hành vi điều khiển xe đi với tốc độ cao, lạng
lách. Tuy nhiên, hành vi của M2 mục đích để không bị nhóm của Tuấn A đuổi đánh nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T9 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M2.
Đối với ông Đỗ Văn D1 (là bố của Đỗ Tùng D) và chị Nguyễn Thị H3 (là chị gái của Nguyễn Ngọc T1). Ngày 02/02/2024, ông D1 và chị H3 để xe và chìa khoá ở nhà nên D và T1 tự ý lấy xe mô tô đi và thực hiện hành vi phạm tội. Việc D và T1 tự ý lấy xe đi anh D1 và chị H3 không biết, do vậy không có căn cứ để xử lý đối với anh D1 và chị H3.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn Tuấn A; Nguyễn Ngọc T1; Nguyễn Đức H; Nguyễn Tấn M; Đỗ Tùng D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Xử phạt:
1.1. Đối với bị cáo Đặng Văn Tuấn A: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án; được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 15/5/2024
1.2. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án; được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 15/5/2024.
1.3. Đối với bị cáo Nguyễn Đức H: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án; được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 16/5/2024.
1.4. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn M: áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án; được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2024 đến ngày 11/4/2024.
1.5. Đối với bị cáo Đỗ Tùng D: áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Tùng D cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Áp dụng Điều 123, 124 Bộ luật tố tụng hình sự: Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Đặng Văn Tuấn A; Nguyễn Ngọc T1; Nguyễn Đức H; Nguyễn Tấn M.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
*Tuyên trả các vật chứng sau:
- - Trả cho chị Nguyễn Thị H3 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20 H1-526.29, đã qua sử dụng, số khung: 3911LY046988, số máy: JA39E1382602;
- - Trả cho ông Đỗ Văn D1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20H1-624.23, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3928NY180683, số máy: JA39E2677659;
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa dấu vết màu nâu đỏ, đã khô (nghi máu);
- - mảnh vỡ thuỷ tinh màu xanh.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Công an thành phố T9 và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công)
4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5.Về án phí. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Án xét xử sơ thẩm công khai. Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn Tuấn A; Nguyễn Ngọc T1; Nguyễn Đức H; Nguyễn Tấn M; Đỗ Tùng D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015.
