Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HSST

Ngày: 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Ông Trần Văn Tuấn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/HSST ngày 01/11/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đồng Văn Q, Giới tính: Nam Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1971, tại tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm T 9, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên bố: Đồng Văn B (Sinh năm 1937), đã chết; Họ tên mẹ: Dương Thị T (Sinh năm 1939); Gia đình có 7 anh chị em, bị can là con thứ tư; Vợ con: chưa có.

- Tiền án: 02 tiền án.

  • + Tại Bản án số 77 ngày 13/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2024 ( chưa được xóa án tích).
  • + Tại Bản án số 28 ngày 24/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tiền sự: Tại Quyết định số 34 ngày 03/02/2023, bị Chủ tịch UBND xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt hành chính áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Nhân thân:

  • + Tại Bản án số 15 ngày 14/3/1997, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân" theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.
  • + Tại Bản án số 19 ngày 28/7/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân" theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.
  • + Tại Bản án số 03 ngày 18/01/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù, về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.
  • + Tại Bản án số 22 ngày 13/8/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù, về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.
  • + Tại Bản án số 04 ngày 29/01/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 05 năm tù, về tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích..
  • + Tại Bản án số 153 ngày 25/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội, “Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
  • + Tại Quyết định số 0001799/QĐ-XPHC ngày 21/02/2023, bị công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 20/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

- Bị hại: 1.Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955 (Vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1936; (Vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi ĐKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1962; (Vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Đồng Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đồng Văn Q là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do không có tiền mua ma túy và chi tiêu cá nhân nên Q đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 6 giờ ngày 26/7/2024, Q đi bộ từ nhà tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên dọc theo đường quốc lộ 37, hướng lên thành phố T để tìm sơ hở trộm cắp tài sản. Đến khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi qua khu vực gần Cầu M, thuộc xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Q phát hiện thấy tại nhà bà Nguyễn Thị P (Sinh năm 1955) đang để 01 chiếc xe đạp màu xám trước cửa nhà, không có người trông giữ. Q đi vào dắt trộm chiếc xe đạp ra cổng rồi đạp xe theo đường quốc lộ 37 mang đến cơ sở kinh doanh phế liệu của ông Trịnh Văn T1 bán chiếc xe đạp cho ông T1 được số tiền 100.000 đồng. Số tiền này, sau đó Q đã mua ma tuý và sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 15/8/2024, Q tiếp tục đi bộ lên khu vực tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua nhà bà Lê Thị H, Q nghe thấy tiếng gà kêu, đoán biết gia đình bà H có gà nuôi nhốt trong chuồng nên Q đã nảy sinh ý định đột nhập trộm cắp gà nhà bà H. Q đi vòng ra sau nhà, sử dụng đèn pin mang theo soi đèn đi men theo bờ ruộng rồi trèo qua hàng rào bằng lưới đột nhập vào khu vực chuồng gà nhà bà H. Quỳnh thấy có khoảng 20 con gà trong khu vực nuôi nhốt nên đã lấy 01 chiếc bao tải màu trắng để trên giá phía trong chuồng rồi bắt 01 con gà trống (màu lông đỏ đen) và 02 con gà mái (màu lông vàng nâu) cho vào bao tải rồi lấy dây vải trên giá chuồng gà buộc miệng bao lại. Sau đó, Q tiếp tục lấy 01 chiếc bao tải dứa màu xanh ở vị trí lấy chiếc bao tải lúc trước bắt thêm 06 con gà mái (lông màu vàng nâu) cho vào bao tải rồi lấy dây vải buộc miệng bao lại. Sau khi trộm cắp được gà, Q xách 02 chiếc bao quay lại theo đường cũ rồi đi lên bờ đê sông Đào hướng về xã X. Đến khoảng 04 giờ 40 phút cùng ngày, khi Q đi đến khu vực cổng Đền L huyện P, thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P thì bị tổ công tác của Công an thị trấn H, huyện P tuần tra, phát hiện, lập biên bản vụ vụ việc, tạm giữ trong 02 bảo tải chứa 09 con gà (gồm 01 con gà trống màu đỏ đen nặng 2,8kg, 08 con gà mái màu lông vàng nâu nặng 17,8kg).

Sau khi bị mất xe đạp và bị mất gà, bà Nguyễn Thị P và bà Lê Thị H đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an đề nghị giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Đồng Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe đạp của bà Nguyễn Thị P và hành vi trộm cắp gà của bà Lê Thị H như nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 45 ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện P, kết luận: "01 chiếc xe đạp nữ (mini) màu xám, cũ, đã qua sử dụng trị giá là 100.000 đồng".

Tại Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 30/8/3024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện P, kết luận: "Tổng 09 con gà (gồm 01 con gà trống màu đỏ đen nặng 2,8kg, 08 con gà mái màu lông vùng nấu năng 17,8kg) trị giá là 1.854.000 đồng, giá trị 02 bao tải và 02 dây vải cũ là 0 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 thùng bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 mũ lưỡi chai đỏ đã qua sử dụng, trên mũ có ký hiệu “HƯƠNG ANH GROUP TOURIST" và "CÔNG TY TNHH T2"; 01 áo phông cộc tay cổ màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, phần ngực áo có túi ngực bên trái, cổ áo có chữ “DISHUY IPAI" là chiếc mũ và áo phông Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp của bà Nguyễn Thị P do Đồng Văn Q tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra; 01 thùng niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 bao tải dứa màu xanh đã cũ, 01 bao tải dứa màu trắng đã cũ; 02 đoạn dây vải màu trắng đã cũ, 01 chiếc đèn pin có vỏ bằng nhựa màu đen đỏ; 01 xe đạp nữ (mini) màu xám, cũ, đã qua sử dụng do ông Trịnh Văn T1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.

  • - Đối với 09 con gà (gồm 01 con gà trống màu đỏ đen nặng 2,8kg, 08 con gà mái màu lông vàng nâu nặng 17,8kg) đã được bàn giao lại cho bà Lê Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị P, ông Trịnh Văn T1 và bà Lê Thị H không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 89/ CT - VKSPB ngày 31/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã quyết định truy tố Đồng Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đồng Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả; Bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình giữ nguyên bản cáo trạng số 89/CT - VKSPB ngày 31/10/2024; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Đồng Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 mũ lưỡi chai đỏ đã qua sử dụng, trên mũ có ký hiệu “HƯƠNG ANH GROUP TOURIST" và "CÔNG TY TNHH T2"; 01 áo phông cộc tay cổ màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, phần ngực áo có túi ngực bên trái, cổ áo có chữ “DISHUY IPAI"; 01 thùng niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 bao tải dứa màu xanh đã cũ; 01 bao tải dứa màu trắng đã cũ; 02 đoạn dây vải màu trắng đã cũ, 01 chiếc đèn pin có vỏ bằng nhựa màu đen đỏ.

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Đồng Văn Q là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Hoàn trả bà Nguyễn Thị P 01 xe đạp nữ (mini) màu xám, cũ, đã qua sử dụng.

Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghia vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí HSST.

Trong phần tranh luận, bị cáo Đồng Văn Q không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Đồng Văn Q tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản làm việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:

Do là người nghiện ma tuý, cần tiền để mua ma tuý sử dụng và chỉ tiêu cá nhân, nên Đồng Văn Q đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Ngày 26/7/2024 tại xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Q đã trộm cắp 01 xe đạp có giá trị là 100.000 đồng của bà Nguyễn Thị P. Ngày 15/8/2024 tại tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện P, Q tiếp tục trộm cắp 09 con gà có giá trị là 1.854.000 đồng của gia đình bà Lê Thị H. Tổng giá trị tài sản mà Q trộm cắp là 1.954.000 đồng.

Bị cáo Đồng Văn Q 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đồng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.

Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Đồng Văn Q thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, gây hoang mang trong dư luận địa phương. Lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cụ thể:

Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản đã được sử dụng là tình tiết định tội nên không được sử dụng là tình tiết tăng nặng, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm đối với tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, ngoài ra bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt:

Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo giáo dục để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội đối với bị cáo Đồng Văn Q là phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là: 01 thùng bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 mũ lưỡi chai đó đã qua sử dụng, trên mũ có ký hiệu “HƯƠNG ANH GROUP TOURIST" và "CÔNG TY TNHH T2"; 01 áo phông cộc tay cổ màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, phần ngực áo có túi ngực bên trái, cổ áo có chữ “DISHUY IPAI" là chiếc mũ và áo phông Q mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp của bà Nguyễn Thị P do Đồng Văn Q tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra; 01 thùng niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 bao tải dứa màu xanh đã cũ; 01 bao tải dứa màu trắng đã cũ; 02 đoạn dây vải màu trắng đã cũ, 01 chiếc đèn pin có vỏ bằng nhựa màu đen đỏ, đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 xe đạp màu ghi xám là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị P nên cần trả lại cho bị hại quản lý sử dụng.

Đối với 09 con gà (gồm 01 con gà trống màu đỏ đen nặng 2,8kg, 08 con gà mái màu lông vàng nâu nặng 17,8kg) đã được bàn giao lại cho bà Lê Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc bà H đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp.

Đối với số tiền bị cáo bán xe đạp cho ông Trịnh Văn T1 được 100.000đ, hiện nay ông T1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên, nên đây được coi là số tiền bị cáo thu lời bất chính, Hội đồng xét xử quyết định truy thu của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, có ông Trịnh Văn T1 là người mua tài sản do Q trộm cấp mà có nhưng ông T1 không biết là tài sản do Q phạm tội mà có nên hành vì không cấu thành tội phạm. Đối với hành vi mua và sử dụng trái phép chất ma tuỷ của Q, quá trình điều tra đến nay chưa làm rõ được nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đồng Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt Đồng Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/8/2024.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử Quyết định tạm giam bị cáo Đồng Văn Q 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hội đồng xét xử ghi nhận việc các bị hại: Bà Lê Thị H đã được nhận lại tài sản là 09 con gà (gồm 01 con gà trống màu đỏ đen nặng 2,8kg, 08 con gà mái màu lông vàng nâu nặng 17,8kg).

    • - Hoàn trả bà Nguyễn Thị P 01 xe đạp nữ (mini) màu xám, cũ đã qua sử dụng.
    • - Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo thu lời bất chính là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 (Một) mũ lưỡi chai đỏ đã qua sử dụng, trên mũ có ký hiệu “HƯƠNG ANH GROUP TOURIST" và "CÔNG TY TNHH T2"; 01 áo phông cộc tay cổ màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, phần ngực áo có túi ngực bên trái, cổ áo có chữ “DISHUY IPAI"; 01 thùng niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 01 bao tải dứa màu xanh đã qua sử dụng (kích thước 55 x 95 cm); 01bao tải dứa màu trắng đã qua sử dụng (kích thước 50 x 82 cm); 01 đoạn dây vải màu trắng đã cũ dài 153 cm; 01 đoạn dây vải màu trắng dài 135 cm; 01 chiếc đèn pin có vỏ bằng nhựa màu đen đỏ.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình).

  4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Đồng Văn Q 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật /.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 89/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger