Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Lê Thị Thanh Thúy.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/TLST- HS ngày 22/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 28/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Quang H, sinh năm 1981 tại Hưng Yên; Sinh trú quán: Đội 4, thôn C, xã Đ (nay là xã C), huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Quang Đ và bà Đào Thị S; có vợ: Nguyễn Thị H1 và có 01 con, sinh năm 2014.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 22/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Duy D, sinh năm 1984 tại Hưng Yên; Sinh trú quán: Đội 6, thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Duy Đ1 và bà Trần Thị C; có vợ: Nguyễn Thị H2 và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Năm 2016, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Môi giới mại dâm.
  • + Năm 2020, bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm bắt giữ từ ngày 16/8/2024, chuyển tạm giam ngày 22/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trần Thị C, sinh năm 1963; Trú tại: Đ, thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên – Có mặt.
  • + Anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1977; Trú tại: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên – Vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn Q, xã P (nay là Phú Thọ), huyện K, tỉnh Hưng Yên - Vắng mặt.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn B, xã T (nay là Phú Thọ), huyện K, tỉnh Hưng Yên - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại địa phận thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Công an xã T đang tuần tra thì phát hiện Hoàng Quang H, sinh năm 1981 ở thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên và Nguyễn Duy D, sinh năm 1984 ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự giao nộp cho tổ công tác 01 gói thuốc lá chứa ống nhựa, bên trong ống nhựa có 01 gói nilon chứa chất tinh thể kết tinh màu trắng đục; H và D đều khai nhận là ma túy đá mua về với mục đích cùng nhau sử dụng chung. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật. Ngoài ra, qua rà soát hiện trường, cách khoảng 20 mét vị trí bắt quả tang, tổ công tác thu giữ và quản lý 01 xe mô tô, biển số 89F2-6510 là phương tiện H, D đi mua ma tuý, kiểm tra trong cốp xe thu giữ 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, 01 điện thoại samsung màu đen của H và D.

Tại cơ quan điều tra D và H khai nhận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 16/8/2024, Nguyễn Duy D điều khiển xe mô tô, biển số 89F2-6510 đến nhà Hoàng Quang H để chơi thì H rủ D đi mua 300.000 đồng ma tuý đá (Methamphetamine) về cùng nhau sử dụng, D đồng ý. D sử dụng xe mô tô, biển số 89F2-6510 chở H đi đến thôn B, xã T (nay là xã P), huyện K để mua ma tuý. Đến nơi, D đợi ở ngoài còn H một mình đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, qua nói chuyện thì biết người này có ma tuý để bán nên H hỏi mua 300.000 đồng ma tuý, người đàn ông đồng ý và đưa cho H 01 gói thuốc lá vinataba có chứa 01 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa 01 gói ma tuý. H cầm gói ma tuý đi ra bảo D mua ma tuý xong rồi đi về tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành mở niêm phong và khai thác dữ liệu điện thoại di động thu giữ của D và H nhưng không phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật có liên quan.

Ngày 17/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D và H nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số 559/KL-KTHS(MT) ngày 19/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong có khối lượng 0,367 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, các bị cáo H và D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H, H và D ngày 16/8/2024, H và D đều khai nhận không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, đặc điểm của người này. Do đó không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

* Về vật chứng:

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của D, D không sử dụng vào việc hành vi phạm tội ngày 16/8/2024.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của H, H không sử dụng vào việc hành vi phạm tội ngày 16/8/2024.

Đối với xe xe mô tô, biển số 89F2 - 6510 đứng tên anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1977 ở thôn A, xã T, huyện K. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trần Thị C, sinh năm 1963 ở đội F, thôn C, xã T, huyện K (mẹ đẻ của bị cáo D) mua của anh T vào đầu năm 2024, xe không có số khung là do trước đó xe bị hư hỏng nặng đã phải thay thế một số phụ tùng trong đó có phần cổ khung xe, bà C không biết D sử dụng vào hành vi phạm tội nên ngày 05/11/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện K trả lại bà C xe mô tô trên.

Cáo trạng số 92/CT-VKSKĐ ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D.
  • - Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Quang H từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/8/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/8/2024.
  • - Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn đinh, không có tài sản riêng nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; trả lại bị cáo Hoàng Quang H 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen; trả lại bị cáo Nguyễn Duy D 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 màu vàng.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện K và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng...; Bản kết luận giám định số 559/KL-KTHS(MT) ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh H đối với mẫu chất thu giữ của H... Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D đã tàng trữ trái phép 0, 367 gam là ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người nhưng vì nhu cầu thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, các bị cáo vẫn bất chấp các quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này, các bị cáo H, D đã có sự tiếp nhận ý chí của nhau, cùng cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người rủ, bỏ tiền và trực tiếp là người mua ma túy nên giữ vai trò, vị trí thứ nhất; Bị cáo D là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo H đi mua ma túy nên giữ vai trò, vị trí thứ hai.

[4]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo:

  • + Về nhân thân: Bị cáo H là người nghiện ma tuý nên không được coi là có nhân thân tốt. Bị cáo D là người có nhân thân xấu, năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Môi giới mại dâm; Năm 2020 bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
  • + Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Ngoài ra bị cáo Hoàng Quang H có bố đẻ là ông Hoàng Quang Đ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba ; mẹ đẻ bị cáo Nguyễn Duy D là bà Trần Thị C có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có xác nhận và đề nghị của chính quyền địa phương cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vị trí vai trò đồng phạm và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với các bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo H có vai trò, vị trí thứ nhất nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo D và phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số 559/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an tỉnh H là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen của bị cáo Hoàng Quang H, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xin được nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên. Tại phiên tòa bị cáo đã ủy quyền cho chị gái bị cáo là chị Hoàng Thị N, sinh năm 1979; Trú tại: Đ, thôn C, xã Đ (nay là xã C) nhận thay bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 màu vàng của bị cáo Nguyễn Duy D, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xin được nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên. Tại phiên tòa bị cáo đã ủy quyền cho mẹ đẻ bị cáo là bà Trần Thị C, sinh năm 1963; Trú tại: Đ, thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên nhận thay bị cáo.

Đối với xe xe mô tô, biển số 89F2-6510 đứng tên anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1977 ở thôn A, xã T, huyện K. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trần Thị C, sinh năm 1963 ở đội F, thôn C, xã T, huyện K (mẹ đẻ của bị cáo D) mua của anh T vào đầu năm 2024, xe không có số khung là do trước đó xe bị hư hỏng nặng đã phải thay thế một số phụ tùng trong đó có phần cổ khung xe, bà C không biết D sử dụng vào hành vi phạm tội nên ngày 05/11/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện K trả lại bà C xe mô tô trên là phù hợp.

[7]. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho H, H và D khai không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D.

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt các bị cáo;

  • - Hoàng Quang H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/8/2024.
  • - Nguyễn Duy D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/8/2024.

2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật sau giám định ghi số 559/KL-KTHS(MT).
  • - Trả lại bị cáo Hoàng Quang H 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, do chị ruột bị cáo là chị Hoàng Thị N, sinh năm 1979; Trú tại: Đ, thôn C, xã Đ (nay là xã C) nhận thay bị cáo.
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Duy D 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 màu vàng, do mẹ đẻ bị cáo là bà Trần Thị C, sinh năm 1963; Trú tại: Đ, thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên nhận thay bị cáo.

(Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 05/12/2024 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).

4. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Quang H và Nguyễn Duy D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA);
  • - VKSND huyện Kim Động;
  • - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Quyền

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Dũng và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger