Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thảo.

Bà Hoàng Thị Thúy Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/HSST-QĐ, ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng C, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1988 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng C1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ Lâm Thị Ngọc H và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn L, sinh năm 1984, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Tưởng Đăng T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khối M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

3. Anh Lê Văn D, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ, ngày 24 tháng 8 năm 2024, Nguyễn Trọng C cùng với Nguyễn Tuấn A, Lê Văn D, Nguyễn Văn H1 và Tưởng Đăng T1 ngồi chờ người đưa đồ ăn nhậu đến khu vực đền V ở khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Trong lúc ngồi chờ thì Nguyễn Trọng C xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với Tưởng Đăng T1 và Nguyễn Tuấn A, liền lúc đó C lấy 01 chiếc dép tông lào màu xanh của C đánh một phát vào trúng mặt Tuấn A, rồi Tuấn A và C lao vào vật nhau. Thấy vậy ba người còn lại vào can ngăn, sau đó D cùng Tuấn A, H1 và T1 về nhà ở của D ở khối H, thị trấn N, huyện N. Khi về đến nơi, D cùng Tuấn A, H1 và T1 đứng ở trong sân nhà còn C đi theo sau đến đứng ở phía ngoài cổng nhà D để chửi Tuấn A. Đứng chửi một lúc thì C đi bộ về nhà mình rồi vào trong gian nhà bếp lấy một con dao dài 41,5 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 13 cm và một chiếc gậy hình trụ tròn bằng gỗ dài khoảng 20 cm đi sang nhà D để tìm đánh Tuấn A. Khi đến nhà D, C thấy Tuấn A đang ở trong nhà D nên C cầm con dao ném về phía Tuấn A thì Tuấn A tránh được. Sau đó C đi về nhà, trên đường đi C vứt chiếc gậy và vào gian bếp trong nhà mình lấy một con dao dài 40 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 27,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 12,5 cm tiếp tục đi đến nhà D rồi chờ Tuấn A ở phía ngoài đường gần nhà D. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Tuấn A lấy một chiếc gậy tre hình trụ tròn dài 142 cm, đường kính không đồng đều, 01 đầu có đường kính 2,5 cm, 01 đầu có đường kính 02 cm từ đống củi của nhà D rồi đi xe máy về nhà. Khi vừa ra trước cổng nhà D thì Tuấn A thấy C đang cầm dao đứng chờ, Tuấn A dừng xe máy lại rồi cầm gậy đánh trúng một phát vào đỉnh đầu của C thì C quay người lại cầm dao chém trúng một phát trúng vào phía sau đỉnh đầu của Tuấn A. Sau đó, Tuấn A tiếp tục dùng gậy tre đánh trúng vào đầu của C, C dùng dao chém hai phát trúng vào mặt và ngực của Tuấn A.

Tuấn A và C ôm vật nhau bổ xuống nền bê tông ở đường thì lúc này Nguyễn Văn H1 vào can ngăn. H1 lấy con dao từ tay C rồi đưa cho Tưởng Đăng T1 vứt con dao đi. Sau đó, D và H1 đưa Tuấn A đi đến Trung tâm y tế huyện N để cấp cứu.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 466/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2024 của Trung tâm P kết luận:

“1. Các kết quả chính:

- Ba sẹo vết thương phần mềm tại các vị trí: Đỉnh chẩm, từ cung lông mày bên trái đến gò má bên trái và thành ngực bên trái. Không ảnh hưởng chức năng

- Vỡ xương gò má bên trái, đã điều trị nội khoa, hiện tại ổn định.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tuấn A tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.

Cáo trạng số 92/CT-VKSNĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Trọng C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Trọng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe, bị hại không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu và tiêu hủy: 01 con dao dài 40 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 27,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 12,5 cm; 01 con dao dài 41.5 cm; lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 13 cm; 01 chiếc dép (loại dép tông) màu xanh dài 07 cm thường dùng để đi chân bên phải, có 03 quai trong đó quai phía trước mũi dép đã bị đứt lìa thu giữ của Nguyễn Trọng C; 01 gậy tre hình trụ tròn dài 142 cm, đường kính không đồng đều, 01 đầu có đường kính 2,5 cm, 01 đầu có đường kính 02 cm thu giữ của Nguyễn Tuấn A. Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng C đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được ở nhà để nuôi con cái ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng C đã khai nhận hành vi của mình giống như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ, ngày 24 tháng 8 năm 2024, tại đoạn đường thuộc khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Trọng C có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là một con dao dài 40 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 27,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 12,5 cm, chém 03 (ba) phát vào đầu, mặt và ngực của Nguyễn Tuấn A, gây thương tích với tỷ lệ là 18%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 92/CT-VKSNĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về hình phạt chính:

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo đầu thú; bị hại Nguyễn Tuấn A cũng có một phần lỗi khi dùng gậy đánh trúng đầu bị cáo và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông nội và bác ruột đều là người có công với cách mạng, được Bộ cấp giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể; có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao dài 40 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 27,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 12,5 cm và 01 con dao dài 41.5 cm; lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 13 cm đều là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc dép (loại dép tông) màu xanh dài 07 cm thường dùng để đi chân bên phải, có 03 quai trong đó quai phía trước mũi dép đã bị đứt lìa thu giữ của Nguyễn Trọng C; 01 gậy tre hình trụ tròn dài 142 cm, đường kính không đồng đều, 01 đầu có đường kính 2,5 cm, 01 đầu có đường kính 02 cm thu giữ của Nguyễn Tuấn A. Đây đều là vật chứng liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[7]. Đối với hành vi Nguyễn Tuấn A dùng gậy tre đánh vào vùng đầu của bị cáo: Bị cáo thừa nhận thương tích không đáng kể, từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu gì đối với Nguyễn Tuấn A. Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tuấn A là đúng quy định pháp luật.

[8]. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin được miễn nộp tiền án phí nên Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9]. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng C 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Trọng C cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 40 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 27,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 12,5 cm; 01 (một) con dao dài 41.5 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28,5 cm, mũi dao không nhọn, cán dao hình trụ tròn làm bằng gỗ dài 13 cm; 01 (một) chiếc dép (loại dép tông) màu xanh dài 07 cm thường dùng để đi chân bên phải, có 03 quai trong đó quai phía trước mũi dép đã bị đứt lìa; 01 (một) gậy tre hình trụ tròn dài 142 cm, đường kính không đồng đều, 01 đầu có đường kính 2,5 cm, 01 đầu có đường kính 02 cm. Vật chứng đều đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 22/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Trọng C.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;

- Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng C cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger