TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-11-2024 “V/v Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Dương Tuấn Anh
Ông Trương Nguyễn Thiện Nhân
-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Bảng – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm H, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện đang lao động tại Đài Loan. Hiện đang lao động tại Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Kim T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Trà M quen biết, tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/10/2019. Sau khi kết hôn, ông và bà M chung sống hạnh phúc với nhau cho đến năm 2021, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Kể từ khi đó, bà M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, không trở về Việt Nam. Ông T đã nhiều lần liên lạc với bà M, đề nghị hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Từ đó, vợ chồng không có điều kiện gần gũi, quan tâm chăm sóc nhau nên tình cảm phai nhạt. Hiện nay tình cảm vợ chồng giữa ông và bà M không còn, nên ông đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với bà Nguyễn Thị Trà M.
Về con chung: Ông Nguyễn Kim T trình trình bày giữa ông và bà Nguyễn Thị Trà M không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Kim T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Trà M:
Theo Đơn trình bày đề ngày 16/8/2024 của ông Nguyễn Kim T trình bày nội dung bà Nguyễn Thị Trà M đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2021. Ông T đã nhiều lần yêu cầu bà M cung cấp địa chỉ tại Đài Loan nhưng bà M chỉ cung cấp thông tin đang làm việc ở một công ty ở Đài Loan. Trước khi sang Đài Loan, bà M có địa chỉ thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại Biên bản lấy lời khai của ông Trần Thanh H, sinh năm 1980 là cậu ruột của bà Nguyễn Thị Trà M trình bày hiện nay bố mẹ ruột của bà M không sinh sống tại địa phương, ở đâu thì ông không rõ. Bà M hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan, có thỉnh thoảng liên lạc với ông qua điện thoại nhưng ông không rõ địa chỉ cụ thể của bà M ở Đài Loan nên ông không thể cung cấp cho Toà án được. Việc ly hôn của vợ chồng ông T, bà M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu của Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho bà M thì ông Trần Thanh H đã nhận và cam kết sẽ thông báo, giao lại cho bà Nguyễn Thị Trà M.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 56, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Trà M có nơi thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang làm việc tại Đài Loan. Tòa án làm việc với gia đình của bà M là ông Trần Thanh H (là cậu ruột của bà M) và khẳng định vẫn có liên hệ với bà M nhưng không cung cấp được địa chỉ, tin tức của bà M cho Tòa án.
Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho bà M thì ông Trần Thanh H đã nhận và cam kết sẽ thông báo, giao lại cho bà Nguyễn Thị Trà M. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà M theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Kim T và bà Nguyễn Thị Trà M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Điều kiện và thủ tục đăng ký kết hôn đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau một thời gian, sau đó bà M sang Đài Loan xuất khẩu lao động cho đến nay. Vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ở xa không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà M.
Xét thấy: Mâu thuẫn tình cảm giữa ông T và bà M đã trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho ông Nguyễn Kim T ly hôn với bà Nguyễn Thị Trà M.
[2.2] Về con chung: Ông Nguyễn Kim T trình bày giữa ông và bà Nguyễn Thị Trà M không có con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Kim T trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 470, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 123; Điều 127; Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Kim T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Trà M; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Ông Nguyễn Kim T trình bày vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Kim T trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000306 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông Nguyễn Kim T đã nộp đủ.
Ông Nguyễn Kim T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật
Bà Nguyễn Thị Trà M có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Tiến |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Kim T yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Trà M
