Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Hòa và bà Lê Thị Hồng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp – Thẩm tra viên-

Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần

Phùng Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Sầm Văn S; tên gọi khác: Không; sinh ngày 25 tháng 12 năm 1997, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Bản Mường H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sầm Nguyên H1 và bà Vi Thị M (đã chết); vợ: Lương Thị N; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Họ và tên: Vi Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 7 năm 2001, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn H2 và bà Ngân Thị H3; vợ: Lương Thị Thùy L; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/8/2024, Sầm Văn S và Vi Văn T đang ở phòng trọ (thuê của ông Đậu Sỹ T1, sinh năm 1957) tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đã cùng nhau góp tiền để đi mua ma túy Heroine về để sử dụng. Cả hai thống nhất Vi Văn T góp số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), Sầm Văn S góp 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) và S là người sẽ trực tiếp đi mua ma túy. Sau khi nhận số tiền góp 1.000.000 đồng từ T, S cầm 7.000.000 đồng đi bộ ra ngã ba đoạn đường N5 giao nhau với Quốc lộ A thì gặp một người đàn ông không quen biết. Qua nói chuyện, S biết được người đàn ông này có sử dụng ma túy và hỏi: “Có biết ai bán hê không?” (ý hỏi có biết ai bán ma túy loại Heroine không). Người đàn ông trả lời: “Bao nhiêu?”, S nói: “Bảy triệu”. Người đàn ông lấy từ trong người ra 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 03 (ba) khối chất bột màu trắng là ma túy đưa cho Sầm Văn S và nhận từ Sỉu 7.000.000 đồng rồi bỏ đi. Sầm Văn S cất số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước, bên phải rồi đi bộ về phòng trọ gặp Vi Văn T. Khi đi về đến cửa phòng trọ, T ra đón S để cùng nhau sử dụng ma túy thì cả hai người bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có 03 (ba) khối chất bột màu trắng (nghi là ma túy), mỗi khối được bọc bên trong một túi nilon nhỏ, trong suốt và đưa người cùng vật chứng về trụ sở để làm việc.

Cùng ngày 19/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định đối với số vật chứng thu giữ của Sầm Văn S và Vi Văn T, xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của Sầm Văn S và Vi Văn T sau khi loại bỏ bao bì, có tổng khối lượng là 11,28 gam (Mười một phẩy hai mươi tám gam), đã lấy 1,94 gam (Một phẩy chín tư gam gửi đi giám định (ký hiệu M1, M2, M3), còn lại 9,34 gam (Chín phẩy ba tư gam) được bảo quản tại Kho vật chứng chờ xử lý.

Tại Kết luận giám định số 830/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 26/8/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Sầm Văn S và Vi Văn T gửi đến giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Sầm Văn S và Vi Văn T có tổng khối lượng là 11,28g (Mười một phẩy hai mươi tám gam)."

Bản Cáo trạng số 90/CT-VKS-NL ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Sầm Văn S, Vi Văn T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Sầm Văn S từ 05 năm 08 tháng đến 06 năm tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam.

Xử phạt: Vi Văn T từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không có tranh luận gì và đều có lời nói sau cùng: Các bị cáo trong thời giam bị tạm giam đã nhận thức hành vi của mình sai trái và thật sự đã rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận điều tra, nội dung bản Cáo trạng truy tố, ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 19/8/2024, Sầm Văn S góp 6.000.000 đồng và Vi Văn T góp 1.000.000 để cho S đi tìm mua ma túy về cho cả hai cùng sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi Sầm Văn S đi mua được ma túy và về đến phòng trọ tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, lúc vừa gặp Vi Văn T thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ 11,28 gam (Mười một phẩy hai mươi tám gam) chất ma túy (Heroine) mà S và T mới mua về tàng trữ trái phép chưa kịp sử dụng.

Do đó, có đủ căn cứ để xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố các bị cáo Sầm Văn S và Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà N1 về ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, gây hậu quả xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác, vì vậy Nhà nước ta đã và đang ra sức đẩy lùi tệ nạn này. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó chứng tỏ các bị cáo là người có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, cần có đường lối xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, vai trò của từng bị cáo, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là thật sự cần thiết mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về nhân thân, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này, có hai bị cáo tham gia, nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên hành vi mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Bị cáo Sầm Văn S và Vi Văn T cùng thống nhất góp tiền đi mua ma túy để cả hai sử dụng, trong đó S góp số tiền 6.000.000 đồng, T góp số tiền 1.000.000 đồng. SầmVăn S là người khởi xướng và trực tiếp đi tìm mua ma túy, và sử dụng số tiền để mua ma túy nhiều hơn Vi Văn T, do đó bị cáo S giữ vai trò chính trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Vi Văn T.

Các bị cáo Sầm Văn S, Vi Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều tỏ rõ sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo Sầm Văn S có bố đẻ là là người có công với Nhà nước và cách mạng, được tặng thưởng Bằng khen; bị cáo Vi Văn T có ông ngoại là người có công với nhà nước, có giấy chứng nhận huy hiệu chiến sĩ dân quân tự vệ tiền tiến, được tặng kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, sử dụng và vỏ bao bì là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Sầm Văn S, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý nên không xem xét.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Sầm Văn S 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam (19/8/2024).

    Xử phạt: Vi Văn T 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam (19/8/2024).

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Công an huyện N phát hành, dán kín các mép, trên các mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại thu giữ của Sầm Văn S và Vi Văn T vào ngày 19/8/2024”.

    Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nghi Lộc và Chi cục THADS huyện N, lập vào ngày 15 tháng 11 năm 2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án: Buộc Sầm Văn S và Vi Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - Công an huyện Nghi Lộc;
  • - THA dân sự, THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sủy-Trung phạm tội TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger