|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày 23-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lợi;
- Ông Nguyễn Đình Tư.
- Thư ký phiên toà: Bà Lăng Thị Em - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Chu Văn Q; sinh ngày 07 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Phương Thị H, sinh năm 1963; vợ: Nông Thị H1 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/8/2024, tạm giam từ ngày 10/8/2024 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Trung V – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Ngô Thị H3, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/01/2024, Chu Văn Q đi bộ trong khu vực thị trấn N nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn ngã ba thuộc Khu A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu vàng nhạt nâu, gắn biển kiểm soát 12V1-127.03 đang dựng đỗ ở trước cửa nhà, không có người trông giữ xe, chìa khóa cắm ở ổ khóa điện. Sau khi quan sát khoảng 05 phút, Chu Văn Q đi đến gần chiếc xe mô tô, vặn mở chìa khóa điện, nổ máy và lấy xe mô tô đi theo đường quốc lộ 4A đến địa bàn phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bán cho một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ tên và địa chỉ) tại một cửa hiệu sửa chữa xe mô tô (không có tên biển hiệu) được tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền này Chu Văn Q đã chi tiêu cho mục đích cá nhân hết.
Ngày 07/8/2024, Chu Văn Q đến Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn tự thú về hành vi phạm tội nêu trên.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 12V1-127.03 là của bà Hoàng Thị H2. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thực hiện truy tìm vật chứng, tiến hành xác minh nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ người mua nên không thu giữ được chiếc xe mô tô bị lấy trộm.
Tại Cơ quan điều tra, bà Hoàng Thị H2 khai: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1- 127.03 là của bà mua lại với chị Ngô Thị H3 vào tháng 02 năm 2022, bà chưa thực hiện đổi tên đăng ký xe. Hiện nay đăng ký xe vẫn mang tên chị Ngô Thị H3. Do không có đăng ký xe chính chủ nên khi mất xe bà không trình báo cơ quan chức năng. Nay bà yêu cầu bị cáo Chu Văn Q phải bồi thường giá trị chiếc xe là 14.000.000 đồng.
Chị Ngô Thị H3 khai, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1- 127.03 là do chị mua từ tháng 9 năm 2018. Khoảng tháng 02 năm 2022, chị đã bán lại chiếc xe này cho bà Hoàng Thị H2. Đến nay chị xác định không còn liên quan gì đến chiếc xe này nữa.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu vàng nhạt nâu, biển kiểm soát 12V1-127.03 có giá trị tại thời điểm ngày 20/01/2024 là 14.000.000 đồng.
Tại cáo trạng số 85/CT-VKS-VL ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Chu Văn Q về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Bị cáo nhất trí bồi thường cho bà Hoàng Thị H2 giá trị chiếc xe bị lấy trộm là 14.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự thú, lần phạm tội này là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Chu Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị. Truy thu của bị cáo số tiền 2.000.000 đồng do phạm tội mà có. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 14.000.000 đồng. Bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cơ bản nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Giá trị tài sản bị cáo thực hiện trộm cắp có giá trị chưa đến mức 1/3 của khung hình phạt. Bị cáo đã tự thú. Mặc dù tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng bị cáo vẫn chấp nhận bồi thường theo mức bị hại yêu cầu, thể hiện bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải. Do đó, để đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm, khuyến khích người phạm tội ăn năn hối cải, tự thú về hành vi phạm tội, có động lực cải tạo tốt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát do mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp tương đối lớn. Nhằm đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt như trên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Do vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về nuôi dưỡng bố mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/01/2024, tại Khu A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Chu Văn Q đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12V1-127.03 của bà Hoàng Thị H2, có giá trị 14.000.000 đồng.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở về quản lý tài sản của bị hại để chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời nên cố ý thực hiện.
[5] Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Chu Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú về hành vi phạm tội; lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo đã ly hôn, đang trực tiếp nuôi dưỡng một con nhỏ.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo nhất trí với mức bồi thường thiệt hại mà bà Hoàng Thị H2 yêu cầu là 14.000.000 đồng nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Hoàng Thị H2 số tiền 14.000.000 đồng. Bị cáo phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định.
[11] Bị cáo bị kết án và phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí nên bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, các ý kiến không phù hợp thì không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 357, 468, 584, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm đ Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Tội danh
Tuyên bố bị cáo Chu Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản.
-
Hình phạt
Xử phạt bị cáo Chu Văn Q 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/8/2024).
-
Trách nhiệm dân sự
Bị cáo Chu Văn Q có trách nhiệm bồi thường cho bà Hoàng Thị H2 số tiền 14.000.000 (mười bốn) triệu đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Án phí
Bị cáo Chu Văn Q được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/10/2024). Bị hại có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/01/2024, tại Khu A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Chu Văn Q đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12V1-127.03 của bà Hoàng Thị H2, có giá trị 14.000.000 đồng.
