Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phương;
  2. Bà Nguyễn Thị Ngân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị La Thị T, sinh năm 1994
  • Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

  • Bị đơn: Anh Vũ Đình C, sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: Thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    (Chị T có mặt, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị La Thị T có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đình C có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 30/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 5/2024 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014 hiện đang ở cùng anh C và Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017 hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi cháu T1, để anh C nuôi cháu Đ; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện tại chị T không có thai nghén gì. Chị T đang làm công nhân tại công ty TNHH S tại Q, thu nhập 1 tháng là 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là 02 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng N (A) huyện Q: trị giá 2 sổ là 190.000.000 đồng, hiện anh C đã rút. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị và chị đang sử dụng. Ly hôn chị T đề nghị tài sản chung chia đôi, chị xin sở hữu xe máy Wave đồng thời yêu cầu anh C phải chia trả chênh lệch về tài sản.

- Tại bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, đơn xin xét xử vắng mặt thì bị đơn chị anh Vũ Đình C trình bày như sau:

Anh và chị La Thị T có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 30/10/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T có nhắn tin yêu đương với bạn trai, anh C đã bắt được và có tát chị T mấy cái. Năm 2023 chị T có quan hệ nam nữ tại công ty. Nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh C sẽ đồng ý ly hôn với điều kiện chị T giao 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014 hiện đang ở cùng anh C và Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017 hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn anh C đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C đang làm công nhân tại công ty TNHH S tại Q.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là 02 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng N (A) huyện Q trị giá 2 sổ là 190.000.000 đồng, hiện anh C đã rút và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị T, chị T đang sử dụng. Nếu anh C được nuôi 02 con chung thì số tiền này sẽ dùng để nuôi con. Nếu chị T nuôi 01 con thì anh C đề nghị số tiền 190.000.000 đồng sẽ cho hết cháu nào ở cùng chị T, nhưng anh C sẽ giữ cho cháu đến năm 18 tuổi và chị T phải không đi lấy chồng; Chị T được sử dụng xe mô tô.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Vũ Đình Đ trình bày: Cháu Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014 là con đẻ của chị La Thị T và anh Vũ Đình C. Hiện cháu Đ đang học lớp 5B trường tiểu học xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị T, anh C ly hôn thì cháu Đ có nguyện vọng ở cùng anh C.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Vũ Đình T1 trình bày: Cháu Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017 là con đẻ của chị La Thị T và anh Vũ Đình C. Hiện cháu T1 đang học lớp 2C trường tiểu học xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị T, anh C ly hôn thì cháu T1 có nguyện vọng ở cùng anh C.

- Tại biên bản xác minh với gia đình anh Vũ Đình C thể hiện: Chị La Thị T và anh Vũ Đình C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 30/10/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh C và lao động tự do. Quá trình chung sống chị T và anh C có phát sinh mâu thuẫn, hiện chị T và anh C đã sống ly thân. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng các bên. Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung, đề nghị giải quyết theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: vợ chồng có công trình phụ làm trên đất của gia đình anh C.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn S, cán bộ tư pháp xã Q, cơ sở thôn H, xã Q huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị La Thị T và anh Vũ Đình C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 30/10/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay chị T và anh C đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung giữa chị La Thị T và anh Vũ Đình C là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử;... nhưng anh C có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, tài sản chung, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị T, anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 30/10/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị T đề nghị ly hôn nhưng anh C cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T, anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị được ly hôn anh C là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị La Thị T và anh Vũ Đình C có 02 con chung là Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014 hiện đang ở cùng anh C và Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017 hiện đang ở cùng chị T. Ly hôn chị T đề nghị đề nghị được nuôi cháu T1, để anh C nuôi cháu Đ; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; anh C đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Đ, cháu T1 có nguyện vọng được ở cùng anh C. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị T, anh C là chính đáng; chị T, anh C có công việc, thu nhập ổn định, từ khi vợ chồng ly thân chị T, anh C chăm sóc nuôi dưỡng con chung chu đáo. Mặc dù cháu T1 có nguyện vọng ở cùng anh C nhưng thức tế cháu T1 đang ở cùng chị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Vũ Đình C trực tiếp nuôi con chung là Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014, chị T trực tiếp nuôi con chung là Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[4] Về tài sản chung: Xác định tài sản chung của chị La Thị T, anh Vũ Đình C gồm: 02 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng N (A) huyện Q: trị giá 2 sổ là 190.000.000 đồng, hiện anh C đã rút. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị T, chị T đang sử dụng. Tổng trị giá 210.000.000 đồng, do đó mỗi người được chia 50% là 210.000.000 đồng: 2= 105.000.000 đồng.

Chị La Thị T có quyền sở hữu, sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị T. Anh Vũ Đình C có nghĩa vụ chia trả chênh lệch về tài sản cho chị T là 85.000.000 đồng.

[5] Về án phí: Chị La Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị La Thị T, anh Vũ Đình C mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chia tài sản chung là 5.250.000 đồng.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị La Thị T được ly hôn anh Vũ Đình C.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Vũ Đình C trực tiếp nuôi con chung là Vũ Đình Đ, sinh ngày 25/10/2014, chị T trực tiếp nuôi con chung là Vũ Đình T1, sinh ngày 08/01/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị T, anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung: Xác định tài sản chung của chị La Thị T, anh Vũ Đình C gồm: 02 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng N (A) huyện Q: trị giá 2 sổ là 190.000.000 đồng, hiện anh C đang quản lý. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị La Thị T, chị T đang sử dụng. Tổng trị giá 210.000.000 đồng, do đó mỗi người được chia 50% là 210.000.000 đồng: 2= 105.000.000 đồng.

    Chị La Thị T có quyền sở hữu sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 17B5-521.21 mua năm 2021, trị giá 20.000.000 đồng đăng ký chủ sở hữu tên chị T. Anh Vũ Đình C có nghĩa vụ chia trả chênh lệch về tài sản cho chị T là 85.000.000 đồng.

  4. Về án phí: Chị La Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 5.250.000 đồng án phí sơ thẩm có giá ngạch chia tài sản chung. Anh Vũ Đình C phải nộp 5.250.000 đồng án phí sơ thẩm có giá ngạch chia tài sản chung.

    Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu số 000 4794 ngày 29/7/2024 và Biên lai thu số 000 4800 ngày 08/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị La Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Đình C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị T và anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger