Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ ÔN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/DS-ST

Ngày: 24-9-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đém

2. Ông Nguyễn Minh Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Ngô Mỹ L, sinh năm 1958 “có mặt”

Địa chỉ cư trú: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn:

1/ Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974 “vắng mặt”

2/ Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973 (Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1974). “vắng mặt”

Cùng địa chỉ cư trú: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 05/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Mỹ L trình bày:

Nguyên vào ngày 05/7/2022 ông Huỳnh Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Đ có đến nhà bà mượn vốn làm ăn số tiền 80.000.000đ, có biên nhận ngày 05/7/2022. Đến ngày 15/6/2023 bà có đến nhà ông H và bà Đ đòi lại số tiền 80.000.000đ nhưng ông H và bà Đ không trả. Sau đó, ông H và bà Đ trả cho bà số tiền 20.000.000đ nên ông H và bà Đ còn nợ bà số tiền 60.000.000đ. Ông H và bà Đ1 hứa sẽ trả tiền còn thiếu cho bà số tiền còn lại 60.000.000đ trong thời gian ngắn nhất vì số tiền mượn đã vượt quá thời gian hứa lúc mượn tiền. Nay bà yêu cầu ông H và bà Đ trả số tiền 60.000.000đ.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án tiến hành tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt không lý do nên không tiến hành phiên hòa giải được giữa các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và Tòa án tống đạt hợp nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về tố tụng Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và trình tự, thủ tục xét xử của Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 92, khoản 1 Điều 147; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn anh Huỳnh Thanh H2, chị Nguyễn Thị Đ1 có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Mỹ L số tiền vay còn nợ: 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: buộc anh H2, chị Đ có nghĩa vụ nộp 3.000.000đ (ba triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:

Bà Ngô Mỹ L khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị Đ1), cùng địa chỉ cư trú ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long trả số tiền vay vốn 60.000.000đồng nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[1.2] Về người tham gia tố tụng:

Bị đơn ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị Đ1) vắng mặt lần thứ hai mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ Điều khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Xét lời trình bày của nguyên đơn bà Ngô Mỹ L có cho ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị Đ1) vay số tiền vốn 80.000.000đồng, có viết biên nhận cho bà do ông H2 ký tên vào ngày 05/7/2022. Qua đó, có cơ sở xác định giữa bà L với ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ có xác lập hợp đồng vay tiền với nguyên đơn. Sau khi vay, vào ngày 15/6/2023 bà Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị Đ1) vợ ông H2 có trả cho bà L số tiền 20.000.000đ, ông H2 và bà Đ còn nợ bà L số tiền 60.000.000đ. Ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ không có ý kiến phản bác lại đối với những chứng cứ của bà L. Tòa án căn cứ chứng vào lời trình bày cùng tài liệu, chứng cứ của bà L cung cấp để giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Một bên thực nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, . . . mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Khoản 2 Điều 91 của bộ luật tố tụng quy định nghĩa vụ chứng minh như sau: “. . . Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự phản đối đó. . .”. Tòa án đã mở phiên hợp công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bị đơn nhưng phía bị đơn không cung cấp ý kiến phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên chấp nhận yêu cầu của bà L là phù hợp Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, 30 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Ngô Mỹ L.

Buộc ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ (Nguyễn Thị Đ1) có nghĩa vụ trả chị Ngô Mỹ L số tiền vốn 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Huỳnh Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ liên đới nộp 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Trà Ôn;
  • - THADS huyện Trà Ôn;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Bá Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 89/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngô Mỹ L. Bị đơn: Nguyên Thanh H và Nguyễn Thị Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger