Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con,

cấp dưỡng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đinh Cường

    2. Bà Trần Thị Mỹ Trang

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1987 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

Chỗ ở hiện nay: Số ¾, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Tấn P – Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt)

Địa chỉ: Đường C, Khóm D, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Ông Võ Minh H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày:

Vào năm 2012 bà B và ông Võ Minh H qua quen biết nên tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M vào ngày 12/6/2012, theo giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, quyển số 01/2012. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013, hiện 02 con chung đang sống chung với bà B.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Số ¾, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông H bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long sinh sống và ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay không có đoàn tụ trở lại.

Nay bà B cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà B yêu cầu được ly hôn với ông Võ Minh H.

  • - Về con chung: Bà B yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013. Bà B yêu cầu ông Võ Minh H cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà B đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại bản khai ý kiến ngày 08/7/2024 con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn cháu Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 trình bày: Cha của cháu là ông Võ Minh H và mẹ là bà Trần Thị B, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

Tại bản khai ý kiến ngày 08/7/2024 con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn cháu Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013 trình bày: Cha của cháu là ông Võ Minh H và mẹ là bà Trần Thị B, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn ông Võ Minh H biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của bà B. Nhưng ông H không có văn bản trả lời và đều vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đều vắng mặt tại các phiên toà mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Xét, giữa bà B và ông H chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông H là hợp pháp. Bà B cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được, nên bà B và ông H đã ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, ông H không đến phiên tòa, thể hiện ông H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa bà B và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà B yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con chung: Bà B yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013; xét cháu M và cháu B1 hiện do bà B nuôi dưỡng, các cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, cháu M và cháu B1 đều có nguyện vọng được sống chung với bà B. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu M và cháu B1 sau khi ly hôn và tránh thay đổi môi trường sống của các cháu, Hội đồng xét xử giao cháu M và cháu B1 cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà B yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013 mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 tháng/01 con chung. Xét thấy, trách nhiệm nuôi dưỡng con cái là nghĩa vụ chung của cha mẹ, nên để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, ông H phải có nghĩa cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013 mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 tháng/01 con chung. Do đó yêu cầu của bà B là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

[3] Xét, quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có căn cứ, nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bị đơn phải chịu tiền án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn bà Trần Thị B được ly hôn với bị đơn ông Võ Minh H.

  2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013 cho nguyên đơn bà Trần Thị B nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc bị đơn ông Võ Minh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Võ Trần Gia M, sinh ngày 23/3/2017 và Võ Trần Gia B1, sinh ngày 25/7/2013 mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 tháng/01 con chung (Một triệu năm trăm nghìn đồng, trên một tháng, trên một con chung).

    Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

  5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo Biên lai thu số: 0005882 ngày 08/7/2024. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí. Buộc bị đơn ông Võ Minh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Thít;
  • - UBND xã Tân Long (2012);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger