|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày: 23-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Xuân Nam
- 2. Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thành Ngưng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
HUỲNH KIM BẢO - sinh ngày 10/12/1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và cư trú: 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Công giáo: Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn M, sinh năm 1953 và bà: Phạm Ánh T, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1985; con: Huỳnh Bảo N, sinh năm 2014 và Huỳnh Hải L, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/12/2023, tại Nhà tạm giữ Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 26/12/2023, Tổ Công tác 363 Công an quận P trên đường tuần tra phát hiện một thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý đang điều khiển xe mô tô Yamaha Mio biển số 59L3-41532 tại trước số G N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra rồi đưa về trụ sở làm việc. Tại Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng khai nhận tên Huỳnh Kim B, sinh năm 1983, HKTT: 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, Công an phát hiện B đeo một chiếc túi màu nâu bên trong có: 01 hộp mắt kính bên trong có 05 gói nylon chứa thảo mộc khô; 01 bóp mắt kính màu xanh bên trong có 09 gói thảo mộc khô (m2); 01 hộp giấy bọc vải bên trong chứa 18 cuộn giấy, bên trong mỗi điếu chứa thảo mộc khô (m1) cùng một số đồ vật khác liên quan. Qua xét nghiệm, B dương tính với ma tuý.
Tiến hành khám xét chổ ở của B tại địa chỉ 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phát hiện trên bàn trong phòng ngủ của B có: 01 hộp nhựa chứa thảo mộc (m3); 01 hộp thuỷ tinh chứa thảo mộc khô (m4); 02 gói nylon chứa thảo mộc khô (m5); 02 hủ thuỷ tinh chứa thảo mộc khô (m6); 01 hộp thuỷ tinh bên trong chứa 40 cuộn giấy chứa thảo mộc khô (m7); 01 hộp giấy chứa 12 gói nylon chứa thảo mộc khô (m8); 01 hộp kim loại màu đỏ chứa 12 gói nylon chứa thảo mộc khô (m9); 01 tô nhựa chứa thảo mộc khô (m10); 01 hộp nhựa màu nâu chứa 20 gói nylon chứa thảo mộc khô (m11) và 01 cân tiểu ly.
Tại cơ quan điều tra, Huỳnh Kim B khai nhận: do bị thoát vĩ đĩa đệm, không có sức lao động nên B nảy sinh ý định mua bán cần sa trái phép để có tiền tiêu xài. B sử dụng điện thoại di động Iphone đăng nhập vào mạng xã hội Telegram để vào hội nhóm mua bán cần sa và quen biết đối tượng có tài khoản tên “Khổng T2”. B và “Khổng T2” chưa gặp trực tiếp hay nói chuyện qua điện thoại nên B không biết giới tính, đặc điểm của đối tượng. B chỉ nhắn tin trao đổi về khối lượng, giá bán cần sa rồi đến ngã tư B - Đ, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có 01 đối tượng mặc đồ xe công nghệ (không rõ lai lịch) đưa cần sa và B đưa tiền cho người này. B mua cần sa của “Khổng T2” 02 lần, lần đầu B không nhớ mua lúc nào, mua bao nhiêu tiền, lần 02 vào ngày 24/12/2023 với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, B đem số cần sa mua được về cất tại phòng ngủ ở lầu 1 nhà ở 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh rồi phân chia cần sa thành gói, điếu, bán mỗi gói giá 150.000 đồng và mỗi điếu giá 100.000 đồng. Khách mua cần sa của B liên hệ qua tin nhắn trên mạng xã hội T3 và trả tiền trực tiếp cho B khi nhận cần sa. B đã xoá các tin nhắn trao đổi với “Khổng T2” và người mua cần sa sau khi mua bán thành công. Số cần sa trong túi và trong phòng ngủ đều do B mua để dành bán lại kiếm lời. Ba mẹ ruột sống cùng B không biết và không liên quan đến số cần sa mà Công an đã phát hiện, thu giữ. Tính đến ngày bị bắt quả tang, B đã mua trái phép cần sa được 02 tháng, thu lợi bất chính khoảng 4.000.000 đồng và tiêu xài hết. Ban đầu, B khai trả tiền mua cần sa bằng chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng M1 THU TRUC là do khi được xem xác minh sao kê giao dịch tài khoản số 00702410937 Ngân hàng S tên HUYNH KIM BAO của mình thấy giao dịch có số tiền 6.950.000 đồng gần giống số tiền B trả cho “Khổng T2” nhưng sau đó B mới nhớ đây là tài khoản của bạn tên “G”. B và “Gy” nhiều lần chuyển tiền qua lại với nhau do “Gy” thường ứng tiền trả khi cả hai đi ăn uống chung, sau đó B chuyển trả lại, có lúc B chuyển để trả tiền mượn “Gy” trước đó.
Căn cứ kết quả do Ngân hàng M1 cung cấp thì tài khoản 159519420 do Nguyễn Trần Thu T4 (sinh ngày 15/4/2000, sinh viên Đại học V, thường trú tại 9 P, Phường C, Quận F) đăng ký.
Ngày 13/6/2024, Cơ quan điều tra làm việc với Nguyễn Trần Thu T4 (qua xét nghiệm, âm tính với ma tuý), T4 khai vào ngày 21/12/2023 khi thực tập hướng dẫn du lịch tại P thì có một khách nữ du lịch nhờ T4 nhận dùm tiền từ tài khoản 00702410937 Ngân hàng SCB tên HUYNH KIM BAO 6.950.000 đồng và T4 đã cung cấp số tài khoản 159519420 Ngân hàng MB tên NGUYEN TRAN THU TRUC rồi lấy tiền mặt đưa cho người này. Tại Biên bản ghi lời khai ngày 17/7/2024, T4 khai có giúp khách nữ nhận tiền chuyển khoản nhưng không nhớ đã cung cấp số tài khoản nào. T4 khai có quen biết với Huỳnh Kim B, B đã chuyển vào tài khoản 159519420 Ngân hàng MB tên NGUYEN TRAN THU TRUC nhiều lần trong đó có 01 lần là 7.000.000 đồng, 01 lần là 6.950.000 đồng vì T4 và B là bạn bè đi chơi chung với nhau nên 01 người ứng tiền trả trước, sau đó người kia sẽ thanh toán lại, có khi là tiền mượn nhau. Việc T4 khai nhận tiền của khách nữ từ tài khoản SCB tên HUYNH KIM BAO vào tài khoản 159519420 Ngân hàng MB tên NGUYEN TRAN THU TRUC là do T4 mở nhiều tài khoản ngân hàng nhưng không sử dụng nên nhớ nhầm, hiện T4 đã huỷ các tài khoản này.
Cơ quan điều tra đã cho Huỳnh Kim B đối chất với Nguyễn Trần Thu T4 và cả hai đều khẳng định T4 – tức “Gy” không phải là đối tượng “Khổng T2” bán cần sa cho B. B và T4 đã xác nhận tại sao kê tài khoản 159519420 Ngân hàng MB tên NGUYEN TRAN THU TRUC là 31 giao dịch với tài khoản tên HUYNH KIM BAO là chuyển tiền ăn uống, không phải tiền mua ma tuý.
Đối với đối tượng bán cần sa cho B có tài khoản Telegram “Khổng T2”, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Cục A thông tin – Bộ thông tin truyền thông xác minh và được phúc đáp tại Công văn số 400/CATTT-NCSC ngày 19/3/2024 với nội dung: không xác minh được các thông tin, tài liệu liên quan đến nhân thân, số điện thoại người đăng ký tài khoản Telegram tên “Khổng T2”.
Đối với Nguyễn Trần Thu T4, hiện chưa đủ căn cứ xác định T4 có liên quan đến việc mua bán cần sa của B nên chưa xử lý.
Đối với người mua cần sa của B, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở xử lý.
Tại Kết luận giám định số 562/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H: 03 gói thảo mộc khô có ký hiệu từ mẫu m1 đến mẫu m11 đều chứa cần sa với tổng khối lượng là
Vật chứng của vụ án gồm có:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Mio biển số 59L3-41532 là phương tiện B điều khiển khi bị bắt. Qua xác minh chiếc xe trên do bà L1 Dếch Quỳnh đứng tên sở hữu cho cháu ruột là Lộc Hoàng L2.
- 02 (hai) gói niêm phong số 202/94 có chữ ký Huỳnh Kim B và hình dấu Công an P, quận P; 01 (một) gói niêm phong số 202/24 có chữ ký Nguyễn Khiếu Đình H (Cán bộ điều tra), Phạm Huỳnh Minh T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P1, quận B.
- 01 (một) túi đeo chéo màu nâu, 01 (một) hộp mắt kính, 01 (một) bóp mắt kính, 01 (một) hộp giấy bọc vải B dùng để chứa cần sa.
- 01 (một) tập giấy cuốn thuốc lá in chữ OCB B dùng để quấn cần sa dạng điếu.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone có sim số 0937.093.xxx, imei: 356737085876701 B dùng để trao đổi mua bán cần sa.
- 01 (một) điện thoại di động Redmi có sim số 0969247420, imei: 86192906048536278, imei2: 86192906048537078 (không kiểm tra được số sim và số imei) là đồ vật cá nhân của B.
- 08 (tám) bao thư chưa sử dụng B khai dùng để chứa cần sa.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSPN ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Huỳnh Kim B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Kim B từ 03 – 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạt bổ sung bị cáo B 5.000.000 đồng.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy và phương tiện để chứa ma túy, tịch thu sung công điện thoại di động dùng trao đổi mua bán ma túy, trả cho bị cáo điện thoại không liên quan đến việc mua bán ma túy.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận hay bào chữa gì đối với hành vi của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Huỳnh Kim B, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận P, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Huỳnh Kim B đã có hành vi mua cần sa khô, cất giữa cần sa, tìm người bán, người mua, đi giao hàng cho người mua. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, mà còn tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy, phát tán cái chết trắng trong cộng đồng, và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh, trật tự. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc mua bán chất ma tuý để kiếm lời là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Trong trường hợp lực lượng chức năng không kịp thời phát hiện hành vi của bị cáo, thì hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo sẽ còn rất nặng nề đối với xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Mio biển số 59L3-41532 là phương tiện B điều khiển khi bị bắt. Chiếc xe trên do bà Lộc Dếch Q đứng tên sở hữu. Bà Q khai đứng tên cho cháu ruột là Lộc Hoàng L2 do L2 không có hộ khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19 giờ ngày 26/12/2023, L2 nhờ B điều khiển xe máy trên chở ra bến xe để L2 về quê và đem xe về phòng trọ. L2 không biết B sử dụng xe của L2 vào việc gì. Ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 441/QĐ-ĐCSMT ngày 07/3/2024 trả lại chiếc xe này cho ông Lộc Hoàng L2 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- 02 (hai) gói niêm phong số 202/94 có chữ ký Huỳnh Kim B và hình dấu Công an P, quận P; 01 (một) gói niêm phong số 202/24 có chữ ký Nguyễn Khiếu Đình H (Cán bộ điều tra), Phạm Huỳnh Minh T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P1, quận B là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- 01 (một) túi đeo chéo màu nâu, 01 (một) hộp mắt kính, 01 (một) bóp mắt kính; 01 (một) hộp giấy bọc vải B dùng để chứa cần sa; 01 (một) tập giấy cuốn thuốc lá in chữ OCB B dùng để quấn cần sa dạng điếu; 08 (tám) bao thư chưa sử dụng B khai dùng để chứa cần sa. Hội đồng xét xử xét thấy đây là phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone có sim số 0937.093.xxx, imei: 356737085876701 B dùng để trao đổi mua bán cần sa. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động Redmi có sim số 0969247420, imei: 86192906048536278, imei2: 86192906048537078 (không kiểm tra được số sim và số imei) là đồ vật cá nhân của B, không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nên trả cho B.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim B 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Phạt bổ sung bị cáo B 10.000.000 đồng.
[2] Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy và các đồ vật phạm tội không có giá trị sử dụng gồm: 02 (hai) gói niêm phong số 202/94 có chữ ký Huỳnh Kim B và hình dấu Công an P, quận P; 01 (một) gói niêm phong số 202/24 có chữ ký Nguyễn Khiếu Đình H (Cán bộ điều tra), Phạm Huỳnh Minh T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P1, quận B; 01 (một) túi đeo chéo màu nâu, 01 (một) hộp mắt kính, 01 (một) bóp mắt kính; 01 (một) hộp giấy bọc vải B dùng để chứa cần sa; 01 (một) tập giấy cuốn thuốc lá in chữ OCB B dùng để quấn cần sa dạng điếu; 08 (tám) bao thư chưa sử dụng B khai dùng để chứa cần sa.
- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone có sim số 0937.093.xxx, imei: 356737085876701.
- Trả cho bị cáo B 01 (một) điện thoại di động Redmi có sim số 0969247420, imei: 86192906048536278, imei2: 86192906048537078 (không kiểm tra được số sim và số imei).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 82/2024, ngày 13/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Phú Nhuận).
Buộc bị cáo B nộp vào ngân sách nhà nước 4.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
[3] Bị cáo B phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Minh Thúy |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Kim Bảo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
