Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 23 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Nghiệp

Ông Duyên Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Bị cáo thứ nhất:

Họ và tên: Quách Văn H, sinh ngày 01/01/1990, giới tính: Nam, nơi cư trú: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông: Nguyễn Minh H1, sinh năm 1959 (còn sống); Con bà: Quách Thu H2, sinh năm 1965 (còn sống); Anh, em ruột: 02 người (Lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 1996), Vợ: Võ Thanh T, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Con: 01 người (sinh năm 2010); Tiền án: Có 03 tiền án.

  • + Bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số: 115/2014/HS-ST ngày 02/4/2014 Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2015. Án phí hình sự chưa nộp (chưa được xóa án tích).
  • + Bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số: 02/2018/HSST ngày 19/01/2018.
  • + Bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 04 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số: 28/2018/HS-PT ngày 31/5/2018 và tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2018/HS-ST ngày 19/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" Buộc chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 năm 03 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2023. Án phí hình sự, dân sự chưa nộp (chưa được xóa án tích).

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị giữ từ ngày 10/10/2023 đến ngày 20/10/2023 chuyển sang tạm giam đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cà Mau (bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn H: Bà Võ Bé N là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).

2. Bị cáo thứ hai:

- Họ và tên: Lê Minh P, sinh ngày 19/5/1986, tên gọi khác: Lê Hoàng M, giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Áp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau: Tạm trú: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: làm thuê; con ông: Lê Hữu N1 (Đã chết), con bà: Lê Thị T1 (Đã chết); A, chị, em ruột: 05 người (Lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất là bị can), Vợ: Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1984; Con: Chưa có.

- Tiền án: Có 01 tiền án. Bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 104 bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại bản án số: 14/2016/HS-ST ngày 26/01/2016, Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2017. Án phí hình sự và dân sự đã thi hành xong ngày 17/9/2021. Phần bồi thường dân sự cho bị hại 19.909.000 đồng chưa thi hành (chưa được xóa án tích).

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số: 36/2005/HSST ngày 22/3/2005 (đã được xóa án tích).
  • + Bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 03 tháng tù tội Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 189/2007/HS-ST ngày 09/11/2007 (đã được xóa án tích).
  • + Bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 01 năm 06 tháng tù tội "Trốn khỏi nơi giam giữ quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số: 45/2008/HSST ngày 30/7/2008 (đã được xóa án tích).
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 61/QĐ-XPVPHC ngày 29/11/2018 của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh C xử phạt 1.500.000 đồng. Chấp hành xong quyết định ngày 29/11/2018 (đã được xóa).

Bị cáo bị giữ từ ngày 10/10/2023 đến ngày 21/10/2023 chuyển sang tạm giam đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cà Mau (bị cáo có mặt)

- Bị hại: Bà Võ Thị H3, sinh năm 1959; Địa chỉ: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 10/10/2023, Quách Văn H và Lê Minh P đi từ thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đến nhà của anh Trần Hiền H4, ngụ phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau thuê của anh H4 01 xe mô tô nhân hiệu Vario màu xám đen, biển số kiểm soát 69K1-350.44 để làm phương tiện đi đến huyện T tìm nơi đá gà ăn tiền để tham gia, khi đi H có mang theo trong người 01 bình xịt hơi cay nếu có xảy ra đánh nhau thì H đem ra sử dụng. H điều khiển xe chở P chạy hướng từ Tắc T về thị trấn T, huyện T. Khi H điều khiển xe qua khỏi cầu T khoảng 500 mết, H dừng xe lại tháo biển số xe ra bỏ vào trong cốp xe. Lúc này, P điều khiển xe chở H ngồi sau đi về hướng thị trấn T. Khi qua cầu Ô thuộc xã K, huyện T khoảng 01km P điện thoại cho bạn của P ở xã K hỏi có đá gà không, thì bạn P nói "nay sân gà không có đá" nên P điều khiển xe chở H quay về. Khi quay về đến quán nước bà Võ Thị H3 thuộc ấp P, xã K, huyện T khoảng 11 giờ cùng ngày, thì P và H ghé vào quán bà H3 nằm võng uống nước, còn xe Phúc đậu sát lề lộ bên trái trước cửa quán, trong quán lúc này không có khách, chỉ có một mình bà H3 ở quán. Khi bà H3 mang nước ra, H phát hiện trên cổ bà H3 có đeo sợi dây chuyền vàng nên nảy sinh ý định giật sợi dây chuyền của bà H3 bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, H và P uống nước khoảng 15 phút thì H kêu bà H3 tính tiền nước, đồng thời H kêu P ra xe nổ máy xe đợi sẵn để H giặt sợi dây chuyền của bà H3, thì P đồng ý. P ra xe đề máy chạy qua lề bên phải hướng về Tắc Thủ cách quán khoảng 35 mét đợi sẵn. Khi bà H3 ra tính tiền nước H dùng tay phải giật mạnh lấy sợi dây chuyền trên cổ bà H3 rồi nhanh chóng chạy lên xe để P điều khiển xe tẩu thoát về hướng cầu Ô, còn bà H3 truy hô và đuổi theo nhưng không kịp. P chở H chạy đến dốc cầu Ô rẻ trái chạy vào lộ đan, khi chạy đến đoạn đường trước nhà bà Huỳnh Thị É thuộc ấp Ông B, xã K, thì bị anh Lê Quốc T2, chị Lê Thị M1 và ông Huỳnh Văn L dùng cây gỗ chặn ngang lộ để khống chế H và P, thì H dùng bình xịt hơi cay thủ sẵn trong người xịt về hướng anh T2, chị M1 và ông L làm hơi cay trúng vào mặt và tay anh T2, chị M1 làm anh T2, chị M1 bị cay mắt nên không ngăn cản được, còn P thì quay đầu xe hướng ngược lại cùng H tiếp tục tẩu thoát, trên đường tẩu thoát H ném bỏ 01 đoạn dây chuyền giặt được của bà H3. Sau đó, cả hai bị người dân và Công an xã K truy đuổi khống chế bắt được H và P giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn T3 giải quyết theo quy định. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu được 01 đoạn kim loại màu vàng gần hiện trường.

- Tại Biên bản xác định trọng lượng kim loại màu vàng ngày 17/10/2023 tại Hội Kim Hoàn tỉnh C, xác định: 01 đoạn kim loại màu vàng tại biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định ngày 17/10/2023 là vàng, loại 585, có trọng lượng là 01 chỉ, 06 phân, 08 ly.

- Kết luận định giá tài sản:

  • + Tại bản Kết luận định giả số 45/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận. 01 đoạn dây chuyền vàng 18K (loại vàng 585), trọng lượng 01 chỉ, 06 phân, 08 ly x 3.540.000 đồng/01 chỉ = 5.947.200 đồng.
  • + Tại bản Kết luận định giá số 10/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, kết luận tài sản của bà Võ Thị H3 bị thiệt hại gồm: 01 sợi dây chuyền vàng 18K (loại vàng 585), trọng lượng sợi dây 05 chỉ, mặt dây chuyền trọng lượng 1,8 chỉ. Tổng trọng lượng vàng 6,8 chỉ x 3.540.000đ/chỉ = 24.072.000 đồng.

- Tại Cơ quan điều tra: Quách Văn H và Lê Minh P thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo H khắc phục thay cho bị cáo số tiền 2.000.000 đồng, gia đình bị cáo P khắc phục thay cho bị cáo số tiền 1.000.000 đồng.

- Tài liệu, độ vật thu giữ và xử lý trong vụ án gồm:

  • + 02 nón bảo hiểm (01 cái màu trắng dạng Nón Sơn, 01 cái màu trắng có sọc xanh trắng dạng nón kết).
  • + 01 quần Jean dài màu xám - đen.
  • + 02 áo sơ mi (01 cái có nền trắng, sọc đen, 01 cái dài tay nền trắng có hoa văn hình tam giác màu tím).
  • + 01 dây thắt lưng màu đen.
  • + 01 đôi dép quay kẹp màu đen.
  • + 01 cái bóp da (dạng mẫu da cá sấu, màu nâu).
  • + 01 căn cước công dân tên Quách Văn H.
  • + 01 mặt kính màu đen hiệu Gentle Monster.
  • + 01 áo thun ngắn tay sọc caro, màu đỏ - đen, cổ trái tim.
  • + 01 quần thun dài sọc caro, màu đỏ - đen, hai bên có túi.
  • + 01 quần Jean ống dài màu xám đã qua sử dụng.
  • + 01 nón kết lưỡi trai màu trắng, phía trên nón có chữ LA
  • + 01 nón bo màu xanh đen nâu rằn ri.
  • + 01 xe mô tô hiệu Vario màu xám và 01 biển số kiểm soát 69K1-350.44.
  • + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 69K1-530.44.
  • + 01 đoạn dây chuyền vàng 18K trọng lượng 01 chỉ, 06 phân, 08 ly.
  • + Tiền Việt Nam 3.703.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Quách Văn H về tội: "Cướp giật tài sản" theo điểm đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Lê Minh P về tội Cướp giật tài sản theo điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo bị cáo Quách Văn H về tội: "Cướp giật tài sản" theo điểm đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Lê Minh P (Lê Hoàng M2) về tội Cướp giật tài sản theo điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Quách Văn H từ 4 năm đến 5 năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Lê Minh P từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm 6 tháng tù.

Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 02 nón bảo hiểm (01 cái màu trắng dạng Nón Sơn, 01 cái màu trắng có sọc xanh trắng dạng nón kết).
  • + 01 quần Jean dài màu xám - đen.
  • + 02 áo sơ mi (01 cái có nền trắng, sọc đen, 01 cái dài tay nền trắng có hoa văn hình tam giác màu tím).
  • + 01 dây thắt lưng màu đen.
  • + 01 đôi dép quay kẹp màu đen.
  • + 01 cái bóp da (dạng mẫu da cá sấu, màu nâu).
  • + 01 mặt kính màu đen hiệu Gentle Monster.
  • + 01 áo thun ngắn tay sọc caro, màu đỏ - đen, cổ trái tim.
  • + 01 quần thun dài sọc caro, màu đỏ - đen, hai bên có túi.
  • + 01 quần Jean ống dài màu xám đã qua sử dụng.
  • + 01 nón kết lưỡi trai màu trắng, phía trên nón có chữ LA
  • + 01 nón bo màu xanh đen nâu rằn ri.

Trả lại cho bị cáo H 01 căn cước công dân tên Quách Văn H.

Trách nhiệm dân sự:

Trong đó quá trình điều tra gia đình bị cáo H khắc phục hậu quả 2.000.000 đồng, bị cáo P khắc phục 1.000.000 đồng. Buộc bị cáo H bồi thường tiếp cho bị hại 7.062.400 đồng; buộc bị cáo P bồi thường tiếp cho bị hại 8.062.400 đồng, số tiền 703.000 đồng của bị cáo H tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án cho bị hại.

Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm buộc các bị cáo phải chịu theo quy định.

Bà Võ Bé N người bảo chửa cho bị cáo H trình bày tranh luận: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo có trình độ học vấn thấp. Bị cáo tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho bị. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị hại Võ Bé H5 trình bày: Yêu cầu bị cáo H, P phải có trách nhiệm bồi thường cho bà số tiền thiệt hại 18.124.800 đồng. Yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình làm lại cuộc đời.

Đối với bị cáo: Các bị cáo H, P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì đối với Đại diện viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo H, P tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở để chứng minh: Khoảng 10 giờ ngày 10/10/2023 tại quán nước của bà Võ Thị H3 thuộc ấp P, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau bị cáo Quách Văn H có hành vị giật sợi dây chuyền trọng lượng 6,8 chỉ vàng 18k của bà H3 đeo trên cổ rồi nhanh chóng chạy ra lộ lên xe mô tô biển kiểm soát 69K1-350.44 do bị cáo Lê Minh P chờ sẵn để tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát đến trước nhà bà Huỳnh Thị É thuộc ấp Ông B, xã K, thì bị anh Lê Quốc T2, chị Lê Thị M1 và ông Huỳnh Văn L dùng cây gỗ chặn ngang lộ để khống chế H và P, thì bị H dùng bình xịt hơi cay thủ sẵn trong người xịt vào mặt và tay anh T2, chị M1, làm anh T2, chị M1 bị cay mắt nên không ngăn cản được, còn bị cáo P thì quay đầu xe hướng ngược lại cùng H tiếp tục tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được Bộ luật hình sự quy định. Mặc dù các bị cáo biết rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để tiêu sài cá nhân lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo H có 03 tiền án đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích bị cáo tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo P, bị cáo H trên đường tẩu thoát, có hành vi hành hung dùng bịt xịt hơi cai để tẩu thoát.

Khoản 1 và điểm đ, i khoản 2 Điều 171 Tội cướp giật tài sản:

  1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
  • a)...
  • đ) Hành hung để tẩu thoát,
  • i) Tái phạm nguy hiểm;

Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo H có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” điểm đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo P có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo truy tố Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật; đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai giữa ban ngày là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân; đồng thời các bị cáo còn đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội khác và bị kết án không sửa đổi, làm lại cuộc đời, nên cần phải xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng nhân thân của các bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H, P thành khẩn khai báo, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ vào điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng; Bị cáo P lần phạm tội này là tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo H và bị cáo P là đồng phạm nhưng giản đơn, không phân công cụ thể; Tuy nhiên bị cáo H là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và người trực tiếp hành hung để tẩu thoát, cho nên khi lượng hình bị cáo H phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo P là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người làm thuê, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Trách nhiệm dân sự: Tổng giá trị sợi dây chuyền bị chiếm đoạt theo kết quả định giá là 24.072.000 đồng, tại cơ quan điều tra đã thu hồi được 01 đoạn dây chuyền có giá trị theo định giá là 5.947.200 đồng trả lại cho bị hại Võ Thị H3. Bị hại Võ Thị H3 yêu cầu bị cáo P và H bồi thường giá trị sợi dây chuyền bị chiếm đoạt còn lại 18.124.800 đồng. Do đó, buộc bị cáo H, P mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại H3 bằng ½ là 9.062.400 đồng. Trong giai đoạn điều tra gia đình bị cáo H đã khắc phục 2.000.000 đồng, gia đình bị cáo P đã khắc phục 1.000.000 đồng. Buộc bị cáo H bồi thường tiếp cho bị hại 7.062.400 đồng; buộc bị cáo P bồi thường tiếp cho bị hại 8.062.400 đồng.

[6] Về vật chứng của vụ án: Các tài sản cá nhân thu giữ của bị cáo H, P, tại phiên tòa hai bị cáo không yêu cầu nhận lại, thấy rằng các tài sản này không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 02 nón bảo hiểm (01 cái màu trắng dạng Nón Sơn, 01 cái màu trắng có sọc xanh trắng dạng nón kết).
  • + 01 quần Jean dài màu xám - đen.
  • + 02 áo sơ mi (01 cái có nền trắng, sọc đen, 01 cái dài tay nền trắng có hoa văn hình tam giác màu tím).
  • + 01 dây thắt lưng màu đen.
  • + 01 đôi dép quay kẹp màu đen.
  • + 01 cái bóp da (dạng mẫu da cá sấu, màu nâu).
  • + 01 mặt kính màu đen hiệu Gentle Monster.
  • + 01 áo thun ngắn tay sọc caro, màu đỏ - đen, cổ trái tim.
  • + 01 quần thun dài sọc caro, màu đỏ - đen, hai bên có túi.
  • + 01 quần Jean ống dài màu xám đã qua sử dụng.
  • + 01 nón kết lưỡi trai màu trắng, phía trên nón có chữ LA
  • + 01 nón bọ màu xanh đen nâu rằn ri.

Trả lại cho bị cáo H:

  • + 01 căn cước công dân tên Quách Văn H.

Đối với số tiền thu giữ của bị cáo H 703.000 đồng được tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án cho bị hại.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Vario màu xám, 01 biển số kiểm soát 69K1-350.44.01 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 69K1-530.44 trong quá trình điều tra đã trả cho anh Trần Hiền H4. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo H, P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm) và án phí dân sự bị cáo H phải nộp 353.000 đồng (làm tròn), bị cáo P phải nộp 403.000 đồng (làm tròn).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn H; Lê Minh P (Lê Hoàng M2) phạm tội: "Cướp giật tài sản".

Căn cứ điểm đ, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Quách Văn H 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị giữ 10/10/2023.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh P (Lê Hoàng M2) 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị giữ 10/10/2023.

  1. Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Quách Văn H bồi thường tiếp cho bị hại 7.062.400 đồng; buộc bị cáo Lê Minh P (Lê Hoàng M2) bồi thường tiếp cho bị hại 8.062.400 đồng.

Bị hại Võ Thị H3 liên hệ Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nhận số tiền các bị cáo khắc phục hậu quả.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền trên, bị cáo Trần Văn Đ1, còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  1. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017); khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 02 nón bảo hiểm (01 cái màu trắng dạng Nón Sơn, 01 cái màu trắng có sọc xanh trắng dạng nón kết).
  • + 01 quần Jean dài màu xám - đen.
  • + 02 áo sơ mi (01 cái có nền trắng, sọc đen, 01 cái dài tay nền trắng có hoa văn hình tam giác màu tím).
  • + 01 dây thắt lưng màu đen.
  • + 01 đôi dép quay kẹp màu đen.
  • + 01 cái bóp da (dạng mẫu da cá sấu, màu nâu).
  • + 01 mặt kính màu đen hiệu Gentle Monster.
  • + 01 áo thun ngắn tay sọc caro, màu đỏ - đen, cổ trái tim.
  • + 01 quần thun dài sọc caro, màu đỏ - đen, hai bên có túi.
  • + 01 quần Jean ống dài màu xám đã qua sử dụng.
  • + 01 nón kết lưỡi trai màu trắng, phía trên nón có chữ LA
  • + 01 nón bọ màu xanh đen nâu rằn ri.

Trả lại cho bị cáo H:

  • + 01 căn cước công dân tên Quách Văn H

Đối với số tiền thu giữ của bị cáo H 703.000 đồng được tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án cho bị hại.

Các vật chứng, tài sản trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo H, bị cáo P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm) và án phí dân sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp, bị cáo H phải nộp 353.000 đồng, bị cáo P phải nộp 403.000 đồng (làm tròn, chưa nộp).

Án xử sơ thẩm công khai: Các Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CAND huyện Trần Văn Thời;
  • - THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Len

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách Văn H, Lê Minh Ph bị truy tố tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger