TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI Bản án số: 89/2024/HSST Ngày 17/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn
Bà Trần Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo quyết định xét xử số 69/2024/QDDXXST- HS ngày 27/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/HSST-QĐ ngày 11/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Vân A, sinh năm 1991; ĐKHKTT và ở: P1803-CT1-103, KĐT V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và con bà Kiều Thị N, sinh năm 1974; Chồng: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989; con: 03 con, lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 02/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
2. Lê Thị P, sinh năm 1979; ĐKHKTT và ở: Thôn P, xã B, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Lê Đình T2, sinh năm 1945 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1945; Chồng: Phạm Đức Q, sinh năm 1977; con: 03 con, lớn sinh năm 2005 và nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 14/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
3. Phùng Khánh L1, sinh năm 1991; ĐKHKTT và ở: Thôn V, xã V, huyện B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Phùng Chu C, sinh năm 1971 và bà: Phùng Thị Bích T3, sinh năm 1971; Chồng: Bùi Xuân K, sinh năm 1990; con 01 sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: P, KĐT V, phường L, quận H, TP ., vắng mặt
- Ông Tăng Minh N1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số I, phố P, phường V, thị xã S, TP ., vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã S, TP ., vắng mặt
- Chị Doãn Thị T4, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện P, thành phố Hà Nội, vắng mặt
- Anh Nguyễn Hoàng C1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện B, TP ., vắng mặt
- Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, TP ., vắng mặt
- Anh Hoàng Mạnh T5, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm K, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt
- Anh Đồng Quốc Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố A, tổ A, phường T, thị xã S, TP ., vắng mặt
- Anh Nguyễn Hiền T6, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, đường Đ, phường T, thị xã S, TP ., vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty TNHH T10 (gọi tắt là Công ty T10), MST: 0106925693, địa chỉ trụ sở ở: Cụm A, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1989, ở: P1708-CT1-103, KĐT V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Công ty T10 thuê địa điểm tại xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để làm bãi tập kết, kinh doanh vận tải và vật liệu xây dựng (cát, đá, sỏi...). Trong quá trình công ty hoạt động thì Nguyễn Vân A (Sinh năm: 1991, là vợ của anh T1) làm Kế toán và tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty T10 cùng anh T1.
Quá trình hoạt động, công ty T10 đã bán hàng hóa là vật liệu xây dựng (cát, đá) và cho một số cá nhân thuê phương tiện (không có sổ sách theo dõi, thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt) nhưng người mua hàng không yêu cầu xuất hóa đơn GTGT nên công ty T10 thừa hóa đơn đầu ra. Do vậy, Nguyễn Vân A nảy sinh và tự ý bán trái phép (xuất khống) hóa đơn GTGT của công ty T10 để thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2023, Nguyễn Vân A đã bán trái phép hóa đơn GTGT của công ty T10 cho một số công ty và cá nhân để thu lợi bất chính. Cụ thể:
1. Công ty cổ phần C2 (gọi tắt là công ty C2), MST: 0500238339, địa chỉ trụ sở ở: Số C phố L, phường L, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Công ty C2 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vận tải (bốc xếp hàng hóa) và vật liệu xây dựng (cát, sỏi...) do ông Vũ Hoàng T7 (sinh năm 1968; ở Số B ngõ A, phố V, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội), làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, là người đại diện theo pháp luật quản lý, điều hành công ty. Ông Tăng Minh N1 (sinh năm 1961, ở: Số I phố P, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc. Bà Lê Thị P (sinh năm: 1979, ở thôn P, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội), làm Phó phòng Tổng hợp có nhiệm vụ quản lý chung hoạt động phòng Kế toán. Năm 2022, công ty C2 có mua hàng hóa (cát đen) và thuê phương tiện (xe ô tô) của một số cá nhân (không ký hợp đồng, không có hóa đơn, chứng từ và thanh toán bằng tiền mặt) để kinh doanh và vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, Lê Thị P đã báo cáo và được ông Tăng Minh N1 đồng ý cho mua hóa đơn GTGT để hợp thức, kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào đối với hàng hóa đã mua không có hóa đơn. Do quen biết Nguyễn Vân A nên Lê Thị P đã trao đổi mua của Nguyễn Vân A 05 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 cho công ty C2 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Gồm các hóa đơn GTGT sau:
- Số 8 ngày 11/01/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 108.000.000 đồng.
- Số 4 ngày 07/3/20222, giá trị tiền hàng trước thuế là 185.545.200 đồng.
- Số 56 ngày 31/3/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 49.423.520 đồng.
- Số 106 ngày 31/5/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 9.416.000 đồng.
- Số 254 ngày 12/11/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 8.850.000 đồng.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn thì P sẽ gửi thông tin, số liệu cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hợp đồng, xuất hóa đơn. Công ty C2 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 45110006858888 (tài khoản của công ty C2 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S) đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S) để thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ trên 05 hóa đơn GTGT đã mua của công ty T10. Sau đó, Nguyễn Vân A giữ lại chi phí là tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chỉ đạo chị Doãn Thị T4 (sinh năm: 1987; ở: thôn X, xã X, huyện P, thành phố Hà Nội), là nhân viên kế toán của công ty T10 chuyển số tiền còn lại cho P bằng hình thức chuyển tiền vào số tài khoản số 2203205077899 (tài khoản của P mở tại Ngân hàng Al - Chi nhánh H3) hoặc chuyển bằng tiền mặt để P nộp lại số tiền này về công ty C2.
Sau khi mua được 05 hóa đơn GTGT của Vân A thì P đã sử dụng để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty C2 vào các kỳ tính thuế tương ứng ghi trên hóa đơn.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 05 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty C2 và thu lợi bất chính là 36.124.472 đồng. Lê Thị P không được hưởng lợi gì.
2. Công ty TNHH Đ1 (gọi tắt là công ty Đ1), MST: 0109133671, địa chỉ trụ sở: Thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Công ty Đ1 hoạt động trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng do chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1985; ở: thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội), làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật trực tiếp chỉ đạo điều hành mọi hoạt động của công ty.
Năm 2021, công ty Đ1 mua vật liệu xây dựng (cát, đá) của một số cá nhân (không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt) để thi công một số hạng mục công trình xây dựng trên địa bàn thị xã S, thành phố Hà Nội. Để hợp thức đối với số vật liệu xây dựng không có hóa đơn đã mua, thì chị H đã liên hệ với P để nhờ mua hóa đơn GTGT với chi phí là 11% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). P đồng ý và mua của Nguyễn Vân A 04 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Sau đó, P bán lại 04 hóa đơn GTGT này cho chị H với chi phí là 11% để hưởng lợi bất chính số tiền là 1% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Gồm:
- Số 1 ngày 20/12/2021, giá trị tiền hàng trước thuế là 315.000.000 đồng.
- Số 3 ngày 21/12/2021, giá trị tiền hàng trước thuế là 315.000.000 đồng.
- Số 6 ngày 22/12/2021, giá trị tiền hàng trước thuế là 169.260.000 đồng.
- Số 15 ngày 27/12/2021, giá trị tiền hàng trước thuế là 415.715.000 đồng.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn thì chị H gửi thông tin, số liệu cho P; Sau đó P gửi cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hồ sơ, chứng từ và xuất hóa đơn rồi gửi lại cho P. P gửi lại cho chị H và công ty Đ1 đã thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 26689128888 (tài khoản của công ty Đ1 mở tại Ngân hàng T11 - Chi nhánh S) đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S) để thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ trên 03 hóa đơn GTGT (số A, 3 và 6) đã mua của công ty T10 (chưa thanh thanh toán đối với hóa đơn GTGT số 15). Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Vân A giữ lại tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 2203205077899 (tài khoản của P); P giữ lại chi phí chênh lệch từ việc mua bán trái phép hóa đơn (tương ứng 1% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 45110000859315 (tài khoản của chị H mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S).
Do chị H chưa thanh toán đối với hóa đơn GTGT số 15 (ngày 27/12/2021) nên Nguyễn Vân A yêu cầu P trả tiền. Do vậy, P đã lấy 41.571.500 đồng (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) của mình trả cho Nguyễn Vân A.
Sau khi mua được hóa đơn GTGT, thì chị H đã sử dụng 04 hóa đơn GTGT mua của công ty T10 để kê khai đối với hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty Đ1 (vào kỳ tính thuế tương ứng). Cuối năm 2023, nhận thấy việc làm trên là vi phạm pháp luật nên công ty Đ1 đã chủ động điều chỉnh, loại trừ đối với 04 hóa đơn này. Ngày 14/12/2023, Chi cục thuế thị xã S, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty Đ1 về vi phạm trên.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 04 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty Đ1 thu lợi bất chính là: 121.497.500 đồng. Lê Thị P thu lợi bất chính do hưởng lợi chênh lệch là: 7.992.600 đồng.
3. Công ty TNHH T12 (gọi tắt là công ty T12), MST: 0109666503, địa chỉ trụ sở: thôn C, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội.
Công ty T12 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng (cát, đá...) do anh Nguyễn Hoàng C1 (sinh năm 1988; ở: thôn C, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc, trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động của công ty. Và anh C1 thuê Phùng Khánh L1 (Sinh năm 1991; ở: thôn V, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội) làm kế toán, có nhiệm vụ thực hiện kê khai, hạch toán thuế cho công ty T12 theo quy định.
Quá trình hoạt động, công ty T12 đã mua vật liệu xây dựng (cát, đá) của một số cá nhân (không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt). Vì vậy, L1 đã báo cáo và được anh C1 đồng ý cho mua hóa đơn GTGT để hợp thức, kê khai đối với số hàng hóa dịch vụ đã mua vào không có hóa đơn. Sau đó, L1 đã liên hệ với Lê Thị P nhờ mua hóa đơn GTGT. P đồng ý và đã mua của Nguyễn Vân A 23 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) để bán cho công ty T12 (thông qua Phùng Khánh L1) với chi phí là 11% đối với 22 hóa đơn và 13% đối với 01 hóa đơn (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) để thu lợi bất chính. Gồm:
- Số 4 ngày 15/9/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 155.336.310 đồng.
- Số 16 ngày 27/9/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 76.125.000 đồng.
- Số 231 ngày 19/10/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 49.500.000 đồng.
- Số 236 ngày 26/10/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 48.436.364 đồng.
- Số 239 ngày 29/10/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 12.250.000 đồng.
- Số 259 ngày 16/11/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 156.900.000₫.
- Số 261 ngày 19/11/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 113.975.000đ.
- Số 281 ngày 20/12/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 17.680.000 đồng.
- Số 282 ngày 21/12/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 17.280.000 đồng.
- Số 292 ngày 24/12/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 60.050.000 đồng.
- Số 1 ngày 05/01/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 68.640.000 đồng.
- Số 5 ngày 11/01/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 71.500.000 đồng.
- Số 17 ngày 14/02/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 56.160.000 đồng.
- Số 34 ngày 03/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 233.400.000 đồng.
- Số 53 ngày 24/03/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 62.160.000 đồng.
- Số 72 ngày 06/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 37.800.000 đồng.
- Số 83 ngày 17/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 48.475.000 đồng.
- Số 97 ngày 26/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 92.800.000 đồng.
- Số 182 ngày 02/6/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 31.350.000 đồng.
- Số 202 ngày 09/6/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 13.800.000 đồng.
- Số 231 ngày 26/6/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 85.800.000 đồng.
- Số 305 ngày 12/7/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 24.200.000 đồng.
- Số 333 ngày 28/7/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 79.530.000 đồng.
Sau khi giao dịch mua bán đối với hóa đơn GTGT (Số D ngày 15/9/2022) với chi phí là 13% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) thì P và L1 thống nhất về chi phí mua bán đối với những hóa hóa đơn sau là 11% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Vì vậy, L1 đã báo cáo và được anh C1 đồng ý cho L1 tự cân đối để mua hóa đơn GTGT cho công ty T12.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn thì L1 gửi thông tin, số liệu cho P rồi P gửi cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hồ sơ, chứng từ và xuất hóa đơn. Sau đó, công ty T12 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 6999993999996 (tài khoản của công ty T12 mở tại Ngân hàng M1 - Chi nhánh S) đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S) để thanh toán đối với 23 hóa đơn GTGT đã mua của công ty T10. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Vân A giữ lại tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 2203205077899 (tài khoản của P). P giữ lại chi phí chênh lệch từ việc mua bán trái phép hóa đơn (tương ứng 1% và 3% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 8300138128008 (tài khoản của L1 mở tại Ngân hàng M1 - Chi nhánh S). Khi nhận được tiền, L1 đã tự cân đối và giữ lại từ 1% - 2% (giá trị tiền hàng trước thuế) đối với 22 hoá đơn (không hưởng lợi đối với hoá đơn, số 4 ngày 15/9/2022) để được hưởng lợi bất chính và chuyển số tiền còn lại cho công ty T12 bằng hình thức trả tiền mặt và chuyển vào tài khoản số 0823100588 (tài khoản của vợ anh C1 là chị Nguyễn Thị Hồng M tại Ngân hàng M1 - Chi nhánh S. Anh C1 là người sử dụng số tài khoản trên, chị H2 không biết gì về việc anh C1 mua bán hóa đơn).
Sau đó, L1 sử dụng 23 hóa đơn GTGT mua của công ty T10 để kê khai đối với hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty T12 (vào kỳ tính thuế tương ứng). Cuối năm 2023, nhận thấy việc sử dụng 23 hóa đơn GTGT khống để kê khai thuế đầu vào là vi phạm pháp luật nên công ty T12 đã điều chỉnh, loại trừ đối với những hóa đơn GTGT trên và được Chi cục thuế huyện B, thành phố Hà Nội chấp nhận.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 23 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty T12 thu lợi bất chính là: 161.314.767 đồng. Lê Thị P thu lợi bất chính do hưởng lợi chênh lệch là: 19.238.203 đồng. Phùng Khánh L1 thu lợi bất chính do hưởng lợi chênh lệch là 26.896.000 đồng.
4. Công ty TNHH D (gọi tắt là công ty D), MST: 0110484811, ở: thôn T, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội. Công ty D do anh Nguyễn Quang H1 (sinh năm 1986; ở thôn T, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của công ty
5. Công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X), MST: 2601086968, ở: Xóm K, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Công ty X do chị Vũ Thị T8 (sinh năm 1995; ở: Xóm K, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ) làm Giám đốc và anh Hoàng Mạnh T5 (sinh năm 1993, là chồng của chị T8) cùng tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Giữa anh Hoàng Mạnh T5 và anh Nguyễn Quang H1 có quen biết nhau. Công ty D và công ty X đều hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Năm 2023, công ty D và công ty X đã mua vật liệu xây dựng (cát, đá) của một số cá nhân để sử dụng nhưng không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt. Để hợp thức đối với số vật liệu xây dựng đã mua trên, thì anh T5 đã nhờ anh H1 mua hộ hóa đơn GTGT để kê khai thuế với mức chi phí mua hóa đơn là 11% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Do quen biết P nên anh H1 đã nhờ P mua hộ hóa đơn GTGT cho công ty D và công ty X với chi phí mua hóa đơn là 11% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). P đồng ý và mua của Nguyễn Vân A 06 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 cho công ty D và Công ty X với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) để bán lại cho anh H1 với chi phí là 11% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Anh Huỳnh nhận hóa đơn rồi chuyển lại cho anh T5 hóa đơn GTGT. Trong đó P đã mua cho công ty D và công ty X các hóa đơn cụ thể như sau:
* Công ty D số lượng 04 hóa đơn GTGT, gồm:
- Số 424 ngày 28/9/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 63.672.727 đồng.
- Số 2 ngày 02/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế 7.272.727 đồng.
- Số 110 ngày 25/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 150.000.000 đồng.
- Số 155 ngày 15/11/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 248.181.750 đồng.
* Công ty X số lượng 02 hóa đơn GTGT, gồm:
- Số 109 ngày 25/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 480.000.000 đồng.
- Số 116 ngày 27/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 302.400.000 đồng.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn thì anh T5 gửi thông tin, số liệu cho anh H1 rồi anh H1 gửi cho P. Sau đó, P gửi cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hồ sơ, chứng từ và xuất hóa đơn. Công ty D thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 8340099999 (tài khoản của công ty D mở tại Ngân hàng M1 - Chi nhánh L3) và công ty X thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số [...] (tài khoản của công ty X mở tại Ngân hàng M1 - Chi nhánh V) cùng đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S) để thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ trên 06 hóa đơn GTGT đã mua của công ty T10. Sau đó, Nguyễn Vân A giữ lại phần tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 2203205077899 (tài khoản của P). Sau khi nhận được tiền thì P giữ lại chi phí chênh lệch tương ứng 1% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn và rồi trả số tiền còn lại cho anh H1; anh H1 nhận tiền và trả lại bằng tiền mặt cho anh T5 số tiền còn lại. Anh H1 không hưởng lợi gì từ việc mua bán hóa đơn GTGT cho anh T5.
Sau đó, anh H1 đã sử dụng hóa đơn GTGT số 424 ngày 28/9/23 mua của công ty T10 để kê khai thuế đối với hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty D (không kê khai đối với 03 hóa đơn còn lại). Anh T9 đã sử dụng 02 hóa đơn GTGT mua của công ty T10 để kê khai thuế đối với hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty X.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 06 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty D và công ty X thu lợi bất chính là: 125.152.720 đồng. Lê Thị P thu lợi bất chính do hưởng lợi chênh lệch là: 12.515.272 đồng.
6. Công ty cổ phần T13 (gọi tắt là công ty T13), MST: 0107281314, địa chỉ trụ sở: Số nhà C đường T, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Công ty T14 trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng do anh Đồng Quốc Đ (sinh năm 1978; ở: Khu phố A, tổ A, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động của công ty. Trong quá trình hoạt động thì anh Đ thuê chị Bùi Thị Hồng N2 (Sinh năm 1987; ở: Số G đường P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội) làm Kế toán, có nhiệm vụ thực hiện kê khai, hạch toán thuế cho công ty T13 theo quy định.
Khoảng cuối năm 2022, công ty T13 mua vật liệu xây dựng (cát vàng) của một số cá nhân (không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt) để thi công một số hạng mục công trình nâng cấp, cải tạo tuyến đường và rãnh thoát nước trên địa bàn thị xã S, thành phố Hà Nội. Để hợp thức đối với số vật liệu xây dựng đã mua không có hóa đơn, anh Đ đã tìm hiểu và giao cho chị N2 liên hệ với Nguyễn Vân A để mua hóa đơn GTGT cho công ty T13. Nguyễn Vân A đồng ý bán cho 01 hóa đơn GTGT (Số 297 ngày 27/12/2022, giá trị tiền hàng trước thuế là 160.125.000 đồng) của công ty T10 cho công ty T13 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn).
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Chị N2 đã gửi thông tin, số liệu cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hồ sơ, chứng từ và xuất hóa đơn. Công ty T13 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển khoản) từ tài khoản số 56565565555 (tài khoản của công ty T13 mở tại Ngân hàng T11 - Chi nhánh S) đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S). Sau đó, Nguyễn Vân A giữ lại tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi trả số tiền còn lại cho công ty T13 bằng tiền mặt.
Sau đó, chị N2 đã sử dụng hóa đơn mua được của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty T13 vào kỳ tính thuế tương ứng.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 01 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty T13 thu lợi bất chính là: 16.012.500 đồng.
7. Công ty cổ phần X1 (gọi tắt là công ty X1), MST: 0108338034, địa chỉ trụ sở: Số nhà A, ngách B, ngõ G đường Đ, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Công ty X1 hoạt động trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng do anh Nguyễn Hiền T6 (sinh năm 1977; ở: Số nhà A, ngách B, ngõ G, đường Đ, phường T, thị xã S, thị xã H) làm Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động của công ty.
Tháng 4/2023, công ty X1 mua vật liệu xây dựng (cát, đá) của một số cá nhân (không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt) để thi công một số hạng mục công trình xây dựng tại UBND xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Để hợp thức đối với số vật liệu xây dựng mua không có hóa đơn nên anh T6 đã liên hệ với Nguyễn Vân A để mua hóa đơn GTGT cho công ty X1. Qua trao đổi Nguyễn Vân A đồng ý và bán cho 01 hóa đơn GTGT (Số 368 ngày 18/8/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 186.616.000 đồng) của công ty T10 cho công ty X1 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn).
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Anh T6 đã cung cấp thông tin, số liệu cho Nguyễn Vân A để soạn thảo hồ sơ, chứng từ và xuất hóa đơn. Công ty X1 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển khoản) từ tài khoản số 66889998868 (tài khoản của công ty X1 mở tại Ngân hàng T11 - Chi nhánh H3) đến tài khoản số 45010001369999 (tài khoản của công ty T10 mở tại Ngân hàng B - Chi nhánh S). Sau đó, Nguyễn Vân A giữ lại tiền bán hóa đơn (tương ứng 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) rồi trả số tiền còn lại cho công ty T13 bằng hình thức trả tiền mặt.
Sau đó, anh T6 đã sử dụng hóa đơn GTGT mua của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho công ty X1 vào kỳ tính thuế tương ứng. Cuối năm 2023, nhận thấy việc sử dụng 01 hóa đơn GTGT khống để kê khai thuế đầu vào là vi phạm pháp luật nên công ty X1 đã điều chỉnh, loại trừ đối với hóa đơn GTGT trên.
Như vậy, Nguyễn Vân A đã bán trái phép 01 hóa đơn GTGT của công ty T10 cho công ty X1 thu lợi bất chính là: 18.661.600 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng sau:
- Thu giữ của Nguyễn Thị H: 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, (vỏ màu đen, IMEI: 357332565205958, IMEI: 357332565705957, lắp 01 sim Viettel, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại của H dùng liên lạc, trao đổi để mua trái phép hóa đơn GTGT của P.
- Thu giữ của Nguyễn Quang H1: 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M32 (vỏ màu đen, IMEI khe 1: 35903386104758, IMEI khe 2: 359768846104759, lắp 01 sim Viettel, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại của H1 dùng liên lạc, trao đổi để mua trái phép hóa đơn GTGT của P.
- Thu giữ của Hoàng Mạnh T5: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE (vỏ màu trắng, IMEI: 353848088535609, lắp 01 sim Viettel, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại của T5 dùng liên lạc, trao đổi để mua trái phép hóa đơn GTGT.
- Thu giữ tại nơi làm việc của Lê Thị P gồm:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (vỏ màu đen, số máy: MWM02VN/A, số IMEI: 352991118773070, không lắp thẻ sim, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại P dùng để liên lạc, trao đổi mua bán trái phép hóa đơn GTGT.
- 01 (Một) Case máy tính (vỏ màu đen, trên vỏ có in chữ “GIPC”), đã qua sử dụng là máy tính của Công ty T10 không liên quan đến vụ án.
- 03 (Ba) “Hợp đồng nguyên tắc”, số 2209HĐNT/TS-386 ngày 22/9/2023 giữa Công ty D với Công ty T10 (trong đó có 01 bản đã hoàn thiện chữ ký, con dấu; 02 bản chưa hoàn thiện).
- 03 (Ba) “Biên bản xác nhận khối lượng, giá trị hàng hóa”, ngày 28/9/2023 giữa Công ty D với Công ty T10 (trong đó có 01 bản đã hoàn thiện chữ ký, con dấu; 02 bản chưa hoàn thiện).
- 03 (Ba) “Biên bản xác nhận khối lượng, giá trị hàng hóa”, ngày 02/10/2023 giữa Công ty D với Công ty T10 (trong đó có 01 bản đã hoàn thiện chữ ký, con dấu; 02 bản chưa hoàn thiện).
- 02 (Hai) “Biên bản xác nhận khối lượng, giá trị hàng hóa”, ngày 25/10/2023 giữa Công ty D với Công ty T10 (trong đó cả 02 bản đã hoàn thiện chữ ký, con dấu phía Công ty D; chưa hoàn thiện bên còn lại).
- 01 (Một) “Biên bản xác nhận khối lượng, giá trị hàng hóa”, ngày 15/11/2023 giữa Công ty D với Công ty T10.
- 02 (Hai) “Biên bản xác nhận khối lượng, giá trị hàng hóa”, ngày 14/11/2023 kèm theo “Bảng tổng hợp mua hàng” giữa Công ty D với Công ty T10 (trong đó cả 02 bản đều chưa hoàn thiện chữ ký, con dấu phía Công ty T10).
- 04 (Bốn) Hóa đơn GTGT của Công ty T10 (gồm: số 424 ngày 28/9/2023; số 02 ngày 02/10/2023; số 110 ngày 25/10/2023 và số 155 ngày 15/11/2023).
- Thu giữ tại chỗ ở và nơi làm việc của Nguyễn Vân A:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus (Số máy 3L277V/A; Số sê-ri: JJWTWF0X33; IMEI: 351136716661787; IMEI2: 351136713074232, không lắp thẻ sim, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại của Nguyễn Vân A sử dụng để liên lạc, trao đổi bán trái phép hoá đơn GTGT.
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime; Số máy: SM-G610F/DS; IMEI (khe 1): 355228082331040; IMEI (khe 2): 355229082331048, lắp 01 sim V1. Đây là điện thoại của Nguyễn Vân A dùng để liên lạc, trao đổi bán trái phép hoá đơn GTGT.
- 01 (Một) Case máy tính, màu đen, trên vỏ in chữ “GIPC”, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký lần đầu” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 (01 tờ, bản sao).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký thay đổi lần thứ: 1” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký thay đổi lần thứ: 2” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 81386/17 ngày 23/03/2017 (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 201247/18 ngày 29/03/2018 (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô (01 tờ, bản sao).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 312325/18 ngày 18/05/2018 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên lai thu tiền phí, lệ phí (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 02012022 ngày 01/01/2022 (03 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu công nợ số 02 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 02 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 01 ngày 01/01/2021 (03 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu công nợ (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản nghiệm thu giá trị và khối lượng (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 08 (02 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 31.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 17.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 7.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.11 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 21.11 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.10 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 14.10 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.9 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 3.9 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản xác nhận số dư công nợ ngày 31/12/2020 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 17 (Mười bảy) Biên bản nghiệm thu khối lượng (17 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép (bìa màu trắng - cam).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép “THU-CHI” (bìa màu trắng).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép “SỬA CHỮA-LỐP” (bìa màu trắng).
- 01(Một) Hợp đồng thuê mặt bằng (03 tờ, bản phô tô).
- 02(Hai) Quyển sổ tay cỡ nhỏ (bìa màu trắng).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép (bìa màu cam).
- 04 (Bốn)Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2021 (bìa màu xanh).
- 11 (Mười một) Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2022 (bìa màu xanh).
- 05 (Năm)Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2023 (bìa màu xanh).
- 01(Một)Hợp đồng nguyên tắc số 01 (02 tờ, bản chính)
- 01(Một)Biên bản đối chiếu xác nhận nợ (01 tờ, bản chính).
- 01(Một) Hợp đồng nguyên tắc số 01 (02 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 01 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Bản in sao kê tài khoản ngân hàng B số: 45010005435379.
- 01(Một) Bản in sao kê tài khoản ngân hàng B số: 45010001369999.
- 02 (Hai)Bảng cân đối kế toán năm 2021 và 2022 (08 tờ, bản in).
- 01 (Một)Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2021 (bản in).
- 01 (Một) Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2022 (bản in).
- 01 (Một)Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2023 (bản in).
- Thu giữ của Phùng Khánh L1: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 (vỏ màu đen, kiểu máy CPH 1911, IMEI (1): 869874044087292, IMEI (2): 869874044087284, lắp 01 sim V1, đã qua sử dụng). Đây là điện thoại L1 dùng để liên lạc, trao đổi mua trái phép hóa đơn GTGT.
Quá trình điều tra Lê Thị P, Nguyễn Vân A, Phùng Khánh L1 đã khai rõ hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) bản thân và đồng bọn. Trong đó: Nguyễn Vân A bán trái phép 38 hoá đơn GTGT cho Lê Thị P và bán trái phép cho công ty T13 cùng Công ty X1 mỗi công ty 01 hoá đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) và thu lợi bất chính là: 478.762.500 đồng.
Lê Thị P đã mua trái phép của Nguyễn Vân A 38 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Sau đó, P sử dụng 05 hóa đơn GTGT để kê khai thuế cho công ty C2 và bán trái phép 33 hóa đơn cho 04 công ty (H, C, 386 và T) với chi phí từ 11% đến 13% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) và thu lợi bất chính là 39.746.000 đồng.
Phùng Khánh L1 đã mua trái phép của Lê Thị P 23 hóa đơn GTGT của công ty T10 với chi phí từ 11% đến 13% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Sau đó, L1 bán lại cho công ty T12 23 hóa đơn GTGT để hưởng lợi từ 1% - 2% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) đối với 22 hoá đơn GTGT với số tiền là 26.896.000 đồng.
Quá trình điều tra, truy tố Phùng Khánh L1 đã nộp lại 26.896.000 đồng là tiền thu lợi bất chính. Nguyễn Vân A đã nộp lại 50.000.000 đồng để khắc phục một phần số tiền thu lợi bất chính. Lê Thị P đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 39.746.000 đồng.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra cũng đã làm rõ trong quá trình hoạt động kinh doanh thì công ty T10 có quan hệ kinh tế (mua, bán hàng) với 93 đơn vị, công ty khác trên địa bàn các tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Phúc Thọ, tỉnh Hòa Bình và thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, qua xác minh, thu thập tài liệu đối với 93 đơn vị mua hàng của công ty T10 thì không thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Qua điều tra thấy rằng đồ vật, tài liệu thu giữ tại chỗ ở và nơi làm việc của Lê Thị P và Nguyễn Vân A không liên quan đến hành vi mua bán trái phép hoá đơn. Đây là tài liệu và tài sản hợp pháp của công ty C2 và công ty T10 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty C2 và công ty T10 đồ vật, tài liệu. Cụ thể:
- Trả lại cho công ty C2: 01 (Một) Case máy tính, vỏ màu đen, trên vỏ có in chữ “GIPC”, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho công ty T10 gồm:
- 01 (Một) Case máy tính (vỏ màu đen, in chữ “GIPC”), đã qua sử dụng.
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký lần đầu” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 (01 tờ, bản sao).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký thay đổi lần thứ: 1” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH MTV, MST: 0106925693 “Đăng ký thay đổi lần thứ: 2” (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 81386/17 ngày 23/03/2017 (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 201247/18 ngày 29/03/2018 (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô (01 tờ, bản sao).
- 01 (Một) Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 312325/18 ngày 18/05/2018 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên lai thu tiền phí, lệ phí (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 02012022 ngày 01/01/2022 (03 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu công nợ số 02 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 02 (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 01 ngày 01/01/2021 (03 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu công nợ (01 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Biên bản nghiệm thu giá trị và khối lượng (02 tờ, bản chính).
- 01 (Một) Hợp đồng nguyên tắc số 08 (02 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 31.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 17.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 7.12 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.11 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 21.11 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.10 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 14.10 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 30.9 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 3.9 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01 (Một) Biên bản xác nhận số dư công nợ ngày 31/12/2020 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 17 (Mười bảy) Biên bản nghiệm thu khối lượng (17 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép (bìa màu trắng - cam).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép “THU-CHI” (bìa màu trắng).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép “SỬA CHỮA-LỐP” (bìa màu trắng).
- 01(Một) Hợp đồng thuê mặt bằng (03 tờ, bản phô tô).
- 02(Hai) Quyển sổ tay cỡ nhỏ (bìa màu trắng).
- 01(Một) Quyển sổ ghi chép (bìa màu cam).
- 04 (Bốn) Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2021 (bìa màu xanh).
- 11 (Mười một) Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2022 (bìa màu xanh).
- 05 (Năm) Quyển sổ “THU - CHI” của năm 2023 (bìa màu xanh).
- 01(Một) Hợp đồng nguyên tắc số 01 (02 tờ, bản chính)
- 01(Một) Biên bản đối chiếu xác nhận nợ (01 tờ, bản chính).
- 01(Một) Hợp đồng nguyên tắc số 01 (02 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Biên bản đối chiếu khối lượng và giá trị số 01 (01 tờ, bản in chưa có chữ ký đóng dấu).
- 01(Một) Bản in sao kê tài khoản ngân hàng B số: 45010005435379.
- 01(Một) Bản in sao kê tài khoản ngân hàng B số: 45010001369999.
- 02 (Hai) Bảng in cân đối kế toán năm 2021 và 2022 (08 tờ).
- 01 (Một) Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2021 (bản in).
- 01 (Một) Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2022 (bản in).
- 01 (Một) Tờ khai thuế giá trị gia tăng năm 2023 (bản in).
Tại Bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Vân A về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS. Lê Thị P về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 của Bộ luật hình sự và Phùng Khánh L1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vân A từ 350.000.000.000₫ đến 450.000.000₫.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thị P từ từ 200.000.000.000₫ đến 250.000.000₫.
Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Khánh L1 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G (vỏ màu đen, IMEI: 357332565205958. IMEI: 357332565705057, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M32 (vỏ màu đen, IMEI (khe 1): 359093386104758, IMEI (khe 2):359768846104759, lăp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone SE (vỏ màu trắng, IMEI: 353848088535609, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (vỏ màu đen, số máy: MWM02VN/A, số IMEI: 352991118773070, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 14 Plus; Số máy 3L277V/A; Số sê-ri: JJWTWF0X33; IMEI: 351136716661787; IMEI2: 351136713074232, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (Tên thiết bị: G; Số kiểu máy: SM-G610F/DS; IMEI (khe 1): 355228082331040; IMEI (khe 2): 355229082331048, lắp 01 sim V1)đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 (vỏ màu đen, kiểu máy CPH 1911, IMEI (1): 869874044087292, IMEI (2): 869874044087284, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo được đưa ra các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định của pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Vân A, Lê Thị P và Phùng Khánh L1 đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của ngươi làm chứng, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét về chứng cứ đã có cơ sở để kết luận:
Từ tháng 12/2021 đến tháng 08/2023, Nguyễn Vân A bán trái phép 40 hóa đơn GTGT (trong đó bán trái phép 38 hoá đơn GTGT cho Lê Thị P và bán trái phép cho công ty T13 cùng công ty X1 mỗi công ty 01 hoá đơn GTGT, đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) và thu lợi bất chính là: 478.762.500 đồng (bốn trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm sáu hai nghìn năm trăm đồng). Lê Thị P đã mua trái phép của Nguyễn Vân A 38 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung) của công ty T10 với chi phí là 10% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Sau đó, P sử dụng 05 hóa đơn GTGT để kê khai thuế cho công ty C2 và bán trái phép 33 hóa đơn cho 04 công ty (H, C, 386 và T) với chi phí từ 11% đến 13% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) và thu lợi bất chính là 39.746.000 đồng (ba mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Phùng Khánh L1 đã mua trái phép của Lê Thị P 23 hóa đơn GTGT của công ty T10 với chi phí từ 11% đến 13% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn). Sau đó, L1 bán lại cho công ty T12 23 hóa đơn GTGT để hưởng lợi từ 1% - 2% (giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn) đối với 22 hoá đơn GTGT với số tiền là 26.896.000 đồng (hai mươi sáu triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Vân A, Lê Thị P và Phùng Khánh L1 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
[3] Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách của Nhà nước về quản lý hóa đơn, chứng từ trong lĩnh vực về thuế, ảnh hưởng xấu trong sản xuất, kinh doanh. Khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy các bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời, các bị cáo đã mua bán hóa đơn GTGT khống, tiếp tay cho các công ty làm ăn phi pháp, trốn thuế nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải. Bị cáo Nguyễn Vân A „Lê Thị P, Phùng Khánh L1 tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. trước khi có quyết định thi hành án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đối với bị cáo Vân A hoàn cảnh hiện nay đang nuôi 03 con nhỏ. Bị cáo P có bố đẻ, bố chồng là thương binh 4/4, đã có nhiều thành tích trong công cuộc kháng chiến và được tặng thưởng nhiều huân huy chương của Nhà nước. Bị cáo Vân A và bị cáo P có đều có nghề nghiệp là kế toán, có khả năng nộp phạt tiền theo quy định. Việc áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo L1 có hoàn cảnh khó khăn, đang thời kỳ thai sản sắp đến ngày sinh con. Chồng bị cáo lại mang bệnh tật không có khả năng lao động, con còn nhỏ, bố mẹ đẻ già yếu không có thu nhập. nên việc xử phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng phù hợp theo qui định pháp luật.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G (vỏ màu đen, IMEI: 357332565205958. IMEI: 357332565705057, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng thu của chị Nguyễn Thị H;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M32 (vỏ màu đen, IMEI (khe 1): 359093386104758, IMEI (khe 2):359768846104759, lăp 01 sim V1) đã qua sử dụng thu của anh Nguyễn Quang H1;
- 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone SE (vỏ màu trắng, IMEI: 353848088535609, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng thu của anh Hoàng Mạnh T5;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (vỏ màu đen, số máy: MWM02VN/A, số IMEI: 352991118773070, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng thu của Lê Thị P;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 14 Plus; Số máy 3L277V/A; Số sê-ri: JJWTWF0X33; IMEI: 351136716661787; IMEI2: 351136713074232, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng thu của Nguyễn Vân A;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (Tên thiết bị: G; Số kiểu máy: SM-G610F/DS; IMEI (khe 1): 355228082331040; IMEI (khe 2): 355229082331048, lắp 01 sim V1)đã qua sử dụng thu của Nguyễn Vân A;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 (vỏ màu đen, kiểu máy CPH 1911, IMEI (1): 869874044087292, IMEI (2): 869874044087284, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng thu của Phùng Khánh L1;
Đây đều là những chiếc điện thoại dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua bán trái phép hóa đơn nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với:
- Số tiền 478.762.000 đồng bị cáo Nguyễn Vân A đã nộp theo 50.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây tại Kho bạc nhà nước ngày 07/8/2024 và tại các biên lai số 0001058 ngày 20/8/2008 số tiền 100.000.000 đồng; biên lai số 0001065 ngày 9/9/2024 số tiền 328.762.500₫ của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- Số tiền 39.746.000 đồng bị cáo Lê Thị P đã nộp theo biên lai số 0000986 ngày 11/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- Số tiền 26.896.000 đồng bị cáo Phùng Khánh L1 được chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây tại Kho bạc nhà nước ngày 07/8/2024.
Xét thấy, đây là số tiền các bị cáo được hưởng lợi bất chính có được do thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch sung quỹ nhà nước.
[9] Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Quá trình điều tra đã xác định:
Ông Tăng Minh N1 là người đã đồng ý cho Lê Thị P giao dịch, mua trái phép số lượng 05 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung, tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 361.234.720 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty C2.
Chị Nguyễn Thị H là người đã giao dịch với P mua trái phép số lượng 04 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung, tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 1.214.975.000 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty Đ1. Sau đó, công ty Đ1 đã chủ động loại trừ và điều chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng đối với những hóa đơn GTGT trên. Ngày 14/12/2023, Chi cục thuế thị xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với công ty Đ1.
Anh Nguyễn Hoàng C1 là người đồng ý cho Phùng Khánh L1 mua trái phép 23 hóa đơn GTGT (đã hoàn thiện nội dung, tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 1.613.147.674 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty T12. Sau đó, công ty T12 đã chủ động loại trừ và điều chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng đối với những hóa đơn GTGT trên. Tại văn bản, số 2131/CCT-KTr ngày 21/3/2024 của Chi cục thuế B xác định: Ngày 30/11/2023, công ty T12 đã điều chỉnh, giảm thuế GTGT đầu vào tương ứng của 23 hóa đơn GTGT trên.
Anh Nguyễn Quang H1 đã trực tiếp giao dịch với P để mua 06 hóa đơn GTGT của công ty T10. Trong đó mua cho công ty D số lượng 04 hóa đơn GTGT (tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 469.127.204 đồng) để kê khai đối với hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn và mua giúp (không hưởng lợi nhuận) cho công ty X số lượng 02 hóa đơn GTGT (tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 782.400.000 đồng). Anh Hoàng Mạnh T5 là người nhờ anh H1 giao dịch mua trái phép số lượng 02 hóa đơn GTGT (tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 782.400.000 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty X.
Anh Đồng Quốc Đ đã chỉ đạo chị Bùi Thị Hồng N2 mua của Nguyễn Vân A 01 hóa đơn GTGT (tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 160.125.000 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty T13.
Anh Nguyễn Hiền T6 đã mua của Nguyễn Vân A 01 hóa đơn GTGT (tổng giá trị tiền hàng trước thuế là 186.616.000 đồng) của công ty T10 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn cho công ty X1.
Đối với anh Nguyễn Văn T1 là Giám đốc của công ty T10 là người đã ký hồ sơ, tài liệu có liên quan đến mối quan hệ kinh tế giữa công ty T10 đối với 07 công ty gồm (Cảng S, H, Chỉnh H2, 386, Thành N3, Tuấn L2 và S). Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định: Việc anh T1 ký các hợp đồng là do tin tưởng Nguyễn Vân A đã thực hiện việc mua bán hàng hóa với các công ty khác; Anh T1 không biết và không tham gia cùng Nguyễn Vân A trong việc bán trái phép hóa đơn GTGT của công ty T10 cho người khác nên không có căn cứ để xử lý.
Do vậy, Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Chi cục thuế thị xã S, thành phố Hà Nội; Chi cục thuế huyện ba Vì, thành phố Hà Nội; Chi cục thuế huyện P, thành phố Hà Nội; Chi cục thuế khu vực T - T, tỉnh Phú Thọ để xem xét, xử lý đối với ông Tăng Minh N1, chị Nguyễn Thị H, anh Đồng Quốc Đ, chị Bùi Thị Ngọc N4, anh Nguyễn Hiền T6, anh Nguyễn Hoàng C1, anh Nguyễn Quang H1, anh Nguyễn Văn T1, anh Hoàng Mạnh T5 và các công ty Cảng S, công Ty Đ1, công Ty T13, công Ty X1, công ty T12, công ty D, công ty T10, công ty X theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Doãn Thị T4 là người được Nguyễn Vân A thuê làm kế toán, thực hiện công việc theo sự chỉ đạo của Nguyễn Vân A, Chị T4 không biết và không tham gia cùng Nguyễn Vân A trong việc bán trái phép hóa đơn GTGT của công ty T10 nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T4 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Vân A, Lê Thị P và Phùng Khánh L1 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Vân A là 350.000.000₫
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạt tiền đối với bị cáo Lê Thị P là 200.000.000₫
Căn cứ khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Phùng Khánh L1 12 ( mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ kể từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an thị xã S nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Phùng Khánh L1 cho UBND xã V, huyện B, TP Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G (vỏ màu đen, IMEI: 357332565205958. IMEI: 357332565705057, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M32 (vỏ màu đen, IMEI (khe 1): 359093386104758, IMEI (khe 2): 359768846104759, lăp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone SE (vỏ màu trắng, IMEI: 353848088535609, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 (vỏ màu đen, số máy: MWM02VN/A, số IMEI: 352991118773070, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 14 Plus; Số máy 3L277V/A; Số sê-ri: JJWTWF0X33; IMEI: 351136716661787; IMEI2: 351136713074232, không lắp thẻ sim) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (Tên thiết bị: G; Số kiểu máy: SM-G610F/DS; IMEI (khe 1): 355228082331040; IMEI (khe 2): 355229082331048, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 (vỏ màu đen, kiểu máy CPH 1911, IMEI (1): 869874044087292, IMEI (2): 869874044087284, lắp 01 sim V1) đã qua sử dụng;
(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024)
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính:
- Số tiền 478.762.000 đồng bị cáo Nguyễn Vân A đã nộp: Số tiền 50.000.000₫ nộp theo ủy nhiệm chi của công an thị xã S được chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây tại Kho bạc nhà nước ngày 07/8/2024 và tại các biên lai số 0001058 ngày 20/8/2008 số tiền 100.000.000 đồng; biên lai số 0001065 ngày 9/9/2024 số tiền 328.762.500đ của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- Số tiền 39.746.000 đồng bị cáo Lê Thị P đã nộp theo biên lai số 0000986 ngày 11/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- Số tiền 26.896.000 đồng bị cáo Phùng Khánh L1 nộp theo ủy nhiệm chi của công an thị xã S được chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây tại Kho bạc nhà nước ngày 07/8/2024.
Xác nhận toàn bộ số tiền thu lợi bất chính các bị cáo Nguyễn Vân A, Lê Thị P, Phùng Khánh L1 đã nộp đủ trước khi có quyết định xét xử.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lưu Ngọc Hưng |
Bản án số 89/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 89/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC A, P, L mua bán trái phép hóa đơn
