Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 11/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Ông Lê Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đăng Thường
Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn S (Tên gọi khác: Lê Văn S1), sinh năm 1979, tại Kiên Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Viết Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Thị B (đã chết); có vợ tên Lý Thị H, sinh năm 1978 và có 4 con (Lớn nhất sinh năm 1997; nhỏ nhất sinh năm 2006); Nơi thường trú: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án số 33/HSST ngày 10/7/2003, TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, đã chấp hành án xong ngày 06/3/2004.
  • - Tại Bản án số 61/2006/HSST ngày 27/9/2006, TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” đã chấp hành án xong ngày 17/5/2012.
  • - Tại Bản án số 37/2013/HSST ngày 14/5/2013, TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc” đã chấp hành án xong ngày 22/01/2014.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2024.

2. Họ và tên: Kiên Ngọc M (Tên gọi khác: N), sinh năm 1984, tại Trà Vinh; Dân tộc: Khơ me; Quốc tịch: Viết Nam; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Kiên N1, sinh năm 1959 và bà Kiên Thị N2 (không rõ năm sinh); có vợ tên Kim Thị K, sinh năm 1987 và có 3 con (Lớn nhất sinh năm 2009; nhỏ nhất sinh năm 2022); Nơi thường trú: Khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2024.

3. Họ và tên: Lê Xuân T1 (Tên gọi khác: không), sinh năm 1972, tại Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Viết Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Sỹ B1 (đã chết) và bà Lê Thị H1, sinh năm 1930; có vợ tên Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1987 và có 4 con (Lớn nhất sinh năm 1993; nhỏ nhất sinh năm 2023); Nơi thường trú: Ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 01/12/2017, bị Công an thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc”, đã chấp hành xong ngày 01/12/2017.
  • - Ngày 20/01/2022, bị Công an xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong ngày 21/01/2022.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2024.

4. Họ và tên: Nguyễn Thanh L1 (Tên gọi khác: không), sinh năm 1992, tại Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Viết Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972; có vợ tên Nông Thị K1, sinh năm 1993 và có 3 con (Lớn nhất sinh năm 2015; nhỏ nhất sinh năm 2020); Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2024.

5. Họ và tên: Võ Thị B2 (Tên gọi khác: M1), sinh năm 1988, tại Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Viết Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Võ Văn K2, sinh năm 1953 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1963; có chồng tên Đỗ Minh X, sinh năm 1987 và có 03 con (Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021); Nơi thường trú: Ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;

Tiền án: Không.

Tiền sự:

  • - Ngày 12/9/2022, Công an huyện Đ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, tuy nhiên Công an huyện Đ không tống đạt được quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho Võ Thị B2.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án số 30/2017/HSST ngày 15/8/2017 của TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tuyên phạt Võ Thị B2 04 tháng 20 ngày tù về tội “Đánh bạc” (bằng thời hạn tạm giam), đã chấp hành xong bản án ngày 15/8/2017.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2024.

Các bị cáo bị Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Nguyễn Thanh L1 đến quán nước tại khu N, thuộc tổ I, khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước của Võ Thị B2 để ngồi chơi và nói chuyện với Đỗ Minh X SN 1987 (chồng của B2). Tại đây, X gửi L1 số tiền 300.000 đồng để viếng đám ma người thân tại tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, X mệt nên vào trong nhà nằm ngủ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Lê Văn S và Kiên Ngọc M cùng đến quán của B2 ngồi chơi. Do quen biết nhau nên S rủ M và L1 đánh bài binh sập xám giải trí thì M và L1 đồng ý. Sau đó, S lấy một bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng có sẵn tại bàn trong quán để đánh bài giải trí. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Xuân T1 đến quán thấy S, M và L1 đang đánh bài thì cùng tham gia. Lúc này, S, M, L1 và T1 cùng thống nhất đánh bạc bằng hình thức chơi bài binh sập xám thắng thua bằng tiền, tiền cược mỗi ván là 50.000 đồng. Mỗi người chơi được chia bài một lần, người chia bài được gọi là “cái", mỗi người chơi được chia 13 lá bài, sau đó so bài để tính thắng thua. Một lúc sau, B2 đi chợ về thấy S, M, L1, T1 đánh bạc thắng thua bằng tiền thì có nhắc nhở nhưng không ngăn cản mà để cho các đối tượng đánh bạc tại quán nước do mình quản lý. Trong lúc các đối tượng đánh bạc, B2 đã bán cho L1 01 chai nước ngọt nhưng chưa lấy tiền, bán cho T1 01 chai nước ngọt và 01 tô mì tôm được 40.000 đồng, T1 mua 01 bộ bài tây 52 lá nhưng chưa đưa tiền cho B2. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi S, M, L1 và T1 đang đánh bạc thì bị cơ quan Công an phát hiện, lập hồ sơ xử lý. Khi chơi, S sử dụng 460.000 đồng để đánh bạc; T1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc; M sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; L1 lúc đầu sử dụng số tiền 1.160.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc, do thua bạc nên L1 vay của B2 số tiền 1.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc. Tổng số tiền S, M, T1 và L1 sử dụng để đánh bạc là 5.620.000 đồng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 phạm tội “Đánh bạc”. Đồng thời đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Văn S từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Kiên Ngọc M số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Xuân T1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Võ Thị B2 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.620.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tây (Đã qua sử dụng), 01 (một) bàn khung là kim loại, mặt bàn là gạch men, kích thước 1,2m x 0,55m x 0,55m; 02 (hai) ghế, loại ghế dựa, khung là kim loại, mặt là ván ép, kích thước 1,5m x 0,92m x 0,56m.
  • - Tuyên trả cho Kiên Ngọc M số tiền 1.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu hiệu Vivo màu xanh; Lê Xuân T1 số tiền 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu đen; Nguyễn Thanh L1 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A70 màu đen; Lê Văn S số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 40.000 đồng của bị cáo Võ Thị B2 do bị cáo B2 thu lợi bất chính.

Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trình bày lời luận tội đối với các bị cáo và kết luận đối với vụ án, các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 không có tranh luận gì về phần tội danh và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo; bị cáo Lê Văn S xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau; phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 19/02/2024, các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Lê Xuân T1, Nguyễn Thanh L1 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền đánh bạc là 5.620.000 đồng, tại khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Bị cáo Võ Thị B2 không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng là đồng phạm có hành vi giúp sức, khi cho các bị cáo trên mượn địa điểm do mình quản lý, để hưởng lợi từ việc bán bài tây, đồ ăn, đồ uống, đồng thời cho Nguyễn Thanh L1 vay số tiền 1.000.000 đồng để L1 tiếp tục đánh bạc.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 đã thực hiện như khai nhận ở trên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa lành mạnh của cộng đồng khu dân cư.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, các bị cáo biết được hành vi đánh bạc là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Song vì xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như khai nhận ở trên. Do đó, cần xét xử các bị cáo bằng một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1 đến quán của bị cáo Võ Thị B2 để uống nước, sau đó các bị cáo nảy sinh ý định và cùng tiếp nhận ý thức, cùng thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Bị cáo Võ Thị B2 vai trò là đồng phạm giúp sức trong vụ án.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều là lao động tự do, có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1 và Lê Xuân T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Lê Xuân T1, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Thị B3 có con còn nhỏ, là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên đối với mỗi bị cáo khi quyết định hình phạt.

Do bị cáo Lê Văn S đã từng 3 lần bị kết án, trong đó có 2 lần bị kết án phạt tù về tội “Đánh bạc” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo bị phạt tù nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Đối với các bị cáo Võ Thị B2 và Lê Xuân T1 trước đây từng bị kết án, hoặc bị xử lý hành chính, mặc dù đã được xóa án tích, chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính, nhưng có nhân thân xấu, nên cần tuyên phạt bị cáo loại và mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên, do các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, bị cáo Lê Thị B3 đồng phạm hạn chế, với vai trò giúp sức không đáng kể, nên tuyên phạt 2 bị cáo T1 và B3 nhẹ hơn bị cáo Lê Văn S, nhưng nặng hơn các bị cáo M và L1, bằng hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bằng tiền là phù hợp. Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo là có cơ sở.

Đối với các bị cáo Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[6] Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú về phần hình phạt như trên về cơ bản là phù hợp nên được chấp nhận. Tuy nhiên, đối với bị cáo Lê Xuân T1 từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, nên cần xử phạt hình phạt hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bằng tiền là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với vật chứng thu giữ là 03 bộ bài tây (Đã qua sử dụng); 01 (một) bàn khung là kim loại, mặt bàn là gạch men, kích thước 1,2m x 0,55m x 0,55m; 02 (hai) ghế, loại ghế dựa, khung là kim loại, mặt là ván ép, kích thước 1,5m x 0,92m x 0,56m. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
  • - Đối với vật chứng là số tiền 5.620.000 đồng, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
  • - Đối với vật chứng là: Số tiền 1.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu hiệu Vivo màu xanh thu giữ của Kiên Ngọc M; số tiền 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu đen thu giữ của Lê Xuân T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A70 màu đen thu giữ của Nguyễn Thanh L1; số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn S. Đây là tiền, điện thoại của các bị cáo không dùng để đánh bạc, không liên quan vụ án, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[8] Đối với số tiền 40.000 đồng bị cáo Võ Thị B2 thu lợi từ việc để cho các bị cáo sử dụng địa điểm để đánh bạc để bán 1 chai nước ngọt và mì tôm cho bị cáo Lê Xuân T1, là tiền thu lợi bất chính, nên tuyên tru thu nộp ngân sách Nhà nước là có cơ sở

[9] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự;
  • Tuyên phạt bị cáo Lê Văn S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Kiên Ngọc M số tiền 20.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh L1 số tiền 20.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Lê Xuân T1 09 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 35, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Võ Thị B2 09 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng.

Giao bị cáo Lê Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành xử phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê Xuân T1.

Giao bị cáo Võ Thị B2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành xử phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Võ Thị B2.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lê Xuân T1 và Võ Thị B2 do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 03 bộ bài tây (Đã qua sử dụng), 01 (một) bàn khung là kim loại, mặt bàn là gạch men, kích thước 1,2m x 0,55m x 0,55m; 02 (hai) ghế, loại ghế dựa, khung là kim loại, mặt là ván ép, kích thước 1,5m x 0,92m x 0,56m.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.620.000 đồng.
  • - Trả cho các bị cáo: Kiên Ngọc M số tiền 1.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu hiệu Vivo màu xanh; Lê Xuân T1 số tiền 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu đen; Nguyễn Thanh L1 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A70 màu đen; Lê Văn S số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 40.000 đồng của bị cáo Võ Thị B2 do bị cáo B2 thu lợi bất chính.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Lê Văn S, Kiên Ngọc M, Nguyễn Thanh L1, Lê Xuân T1, Võ Thị B2 mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - THADS huyện Đồng Phú;
  • - CA huyện Đồng Phú (03 bản);
  • - TT LLTP- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - PV 06- Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn S đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger