Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 89/2024/DS-ST

Ngày: 29-8-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Binh và bà Nguyễn Thị Bình.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo – Thư ký Toà án nhân dân Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Hện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 176/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Hện Đức Linh, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị D, sinh năm 1972;

Nơi cư trú: Số 63, đường ĐT 766, tổ 7, thôn 4, xã Đức Hạnh, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Võ Duy H, sinh năm 1973;

Nơi cư trú: Số 84, đường Hồ Xuân Hương, tổ 1, khu phố 1, thị trấn Dt, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Trước đây bà D và gia đình ông H có mối quan hệ quen biết với nhau nên vào ngày 01/05/2021 ông H có đến vay mượn của bà D số tiền 50.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 20%/năm, tương đương 1,66%/tháng, ông H vay tiền để làm làm việc riêng. Nhưng đến nay bà D đã nhiều lần đến nhà nhắc nhở trả nợ nhưng ông H không thực hiện trả nợ cho bà D bao gồm gốc và lãi theo thỏa thuận.

Tiền lãi tạm tính từ ngày 01/05/2021 đến ngày 19/4/2024 là 35 tháng 18 ngày x 1,66%/tháng x 50.000.000đồng = 30.544.000đồng.

Trong đơn khởi kiện, bà D yêu cầu ông H trả số tiền nợ vay gốc là 50.000.000đồng và tiền lãi là 20.544.000đồng. Bà D yêu cầu ông H tiếp tục chịu lãi 1,66%/tháng kể từ ngày khởi kiện cho đến khi trả xong tiền nợ vay.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn có đến Tòa án tham gia tố tụng và cung cấp ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không ký xác nhận vào biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, mặc dù Tòa án đã có văn bản yêu cầu gửi cho bị đơn thể hiện tại bút lục số 17 và 18.

Tại phiên toà:

Bà Đặng Thị D thay đổi yêu cầu khởi kiện ban đầu như sau: Bà D yêu cầu ông Võ Duy H trả cho bà D số tiền nợ vay gốc là 50.000.000đồng và tiền lãi của số tiền nợ gốc 50.000.000đồng tạm tính từ ngày 01/5/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/8/2024 là 03 năm 03 tháng 27 ngày, với mức lãi suất 10%/năm và tiếp tục chịu lãi cho đến khi trả xong tiền nợ vay gốc.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đức Linh tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

(có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay và lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay; bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố 1, thị trấn Dt, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn có ý kiến thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu liên quan đến việc tính lãi suất; ý kiến thay đổi của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, nguyên đơn cung cấp giấy nợ lập ngày 01/5/2021 (bản gốc) và 01 giấy mượn tiền lập ngày 01/5/2021 (bản gốc); ngoài ra, nguyên đơn không nộp tài liệu, chứng cứ mới nào khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa và Tòa án đã thu thập được theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[4] Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do các đương sự cung cấp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

[4.1] Về tính pháp lý của giao dịch dân sự:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án bản gốc của giấy nợ đề ngày 01/5/2021 và 01 giấy mượn tiền lập ngày 01/5/2021 có chữ ký và chữ viết tên “Võ Duy H".

Theo nội dung thể hiện trong tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì có cơ sở xác định đây là hợp đồng vay tài sản, lập thành văn bản, không thỏa thuận thời hạn vay, có thỏa thuận lãi suất vay (thỏa thuận miệng theo lời khai của nguyên đơn) và các thỏa thuận khác. Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; do đó giao dịch vay mượn tiền giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện qua giấy mượn tiền đề ngày 01/5/2021 đảm bảo các quy định tại Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự, nên được pháp luật dân sự bảo vệ.

Căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn khởi kiện là trong thời hạn luật định.

[4.2] Về xác định nghĩa vụ trả nợ vay:

Tại Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận và cam kết cho ông Võ Duy H vay số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 01/5/2021 và nguyên đơn yêu cầu ông H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc nêu trên và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn có đến Tòa án tham gia tố tụng và cung cấp ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không ký xác nhận vào biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, mặc dù Tòa án đã có văn bản yêu cầu gửi cho bị đơn thể hiện tại bút lục số 17 và 18.

Do đó, căn cứ vào giấy nợ đề ngày 01/5/2021 và 01 giấy mượn tiền lập ngày 01/5/2021, lời khai cam kết của nguyên đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4.4] Về lãi suất: Nguyên đơn thừa nhận khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất miệng nhưng không ghi vào giấy nợ, quá trình khởi kiện nguyên đơn khẳng định lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,66%/tháng. Tuy nhiên, trong giấy nợ do nguyên đơn cung cấp không có nội dung thể hiện thoả thuận lãi nhưng trong giấy mượn tiền lập ngày 01/5/2021 có nội dung thỏa thuận lãi và bị đơn cũng chưa có ý kiến thừa nhận. Do các bên đương sự không thống nhất về mức lãi suất đã thỏa thuận và có tranh chấp về mức lãi suất, nhưng tại phiên tòa nguyên đơn thống nhất yêu cầu tính lãi suất với mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, lãi suất được tính từ ngày bị đơn vay tiền (01/5/2021) trên số tiền nợ gốc 50.000.000đồng là có căn cứ để chấp nhận. Tiền lãi được xác định như sau:

Từ ngày 01/5/2021 đến 29/8/2024 là 03 năm 03 tháng 27 ngày x 10%/năm x 50.000.000đồng = 16.619.000đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền còn phải thi hành án đến khi thi hành án xong là phù hợp quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đức Linh tại phiên tòa phù hợp với những nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 93; Điều 95; Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 147; Điều 161, Điều 262; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 274, Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị D.

- Buộc ông Võ Duy H có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị D tổng số tiền 66.619.000 (bằng chữ: sáu mươi sáu triệu, sáu trăm mười chín nghìn) đồng. Trong đó, số tiền nợ vay gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 29/8/2024 là 16.619.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

- Buộc ông Võ Duy H phải nộp số tiền 3.330.000đồng (bằng chữ: Ba triệu, ba trăm ba mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đức Linh.

- Trả lại cho bà Đặng Thị D số tiền 2.013.000 (bằng chữ: hai triệu, không trăm mười ba nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Hện Đức Linh theo biên lai thu tiền số: 0004448 ngày 02 tháng 5 năm 2024.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND Hện Đức Linh;

- Chi cục THADS Hện Đức Linh;

- Lưu hồ sơ vụ án, tập án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 89/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger