Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 89/2024/DS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất;

Yêu cầu chia thừa kế và Tranh chấp hợp

đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Võ Văn Trường
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Bỉnh

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 và 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 78/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST - DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu chia thừa kế và Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

Nguyên đơn: Ông Phan Hoài T, sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Lâm Hoàng N, sinh năm 2000 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Ông Phan Thanh S, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Anh Trương Thanh V, sinh năm 1984. (có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị T1, sinh năm 1979 (có mặt) Trú tại: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  2. Bà Phan Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt) Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  3. Bà Phan Thị Thu T2, sinh năm 1979 (có mặt) Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  4. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1987 (có mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  5. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1980 (có mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  6. Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1980 (vắng mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  7. Chị Phan Huỳnh N2, sinh năm 2000 (có mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  8. Anh Phan Hoàng S1, sinh năm 2002 (vắng mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  9. Anh Phan Hoài T3, sinh năm 2006 (vắng mặt) Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  10. Ngân hàng N4.

Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1 – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng N4.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thanh H3 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N4 – Chi nhánh huyện C.

Ông Võ Thanh H3 ủy quyền lại cho ông Trương Quốc P – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện C (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ là ông N3, bà T4 khi còn sống có cho nguyên đơn phần đất theo đo đạc thực tế là 4.310,9m² nguyên đơn đã cất nhà và trồng cây trên đất khoảng năm 1999 cho đến nay, canh tác và ở ổn định. Đến năm 2022 bị đơn Phan Thanh S có làm thủ tục nhận thừa kế do cha mẹ để lại và nói với nguyên đơn là ký thủ tục cho S đứng tên chung quyền sử dụng đất có phần đất mà nguyên đơn đang ở và canh tác cho dễ làm rồi sau đó mới tách lại phần đất mà nguyên đơn đang ở cho nguyên đơn. Đó là lý do vì sao có Bản cam kết ngày 21/10/2022 được lập sau khi Phan Thanh S đứng tên quyền sử dụng đất. Do để chắc chắn và tránh S không giữ lời nên nguyên đơn có yêu cầu S lập Bản cam kết với nội dung Phan Thanh S đồng ý tách bằng khoán phần đất của cha mẹ để lại cho Phan Hoài T. Vì nguyên đơn chỉ có duy nhất phần đất đang ở và canh tác nếu đưa hết cho Phan Thanh S thì gia đình nguyên đơn ở đâu và lấy gì canh tác để sinh sống. Ngoài ra, Phan Thanh S còn thống nhất cam kết đưa cho nguyên đơn 300.000.000 đồng khoảng 2000m² theo đo đạc thực tế là 1.749,7m² được tách từ thửa 723 tờ bản đồ số 09 thì nguyên đơn sẽ không yêu cầu chia thừa kế gì đối với thửa đất này. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn Phan Thanh S trả lại phần đất nguyên đơn đang quản lý sử dụng khoảng 5.000m² đất cây lâu năm theo đo đạc thực tế là 4.310,9m² và số tiền 300.000.000 đồng đối với giá trị phần đất 1.749,7m² được tách 1 phần từ thửa 723 tờ bản đồ số 9 của ông Phan Văn N3 và bà Đinh Thị T4.

Bị đơn Phan Thanh S trình bày: Bị đơn yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Hoài T. Buộc ông Phan Hoài T tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình, vật kiến trúc và trả lại cho bị đơn diện tích 4.310.9m² (bao gồm phần đất diện tích 524,6m² thuộc thửa 52, tờ bản đồ số 09 và phần diện tích 3.786,3m² thuộc thửa 56, tờ bản đồ số 09). Do phần đất tranh chấp bị đơn được ông N3 bà T4 để thừa kế lại cho bị đơn, khi lập thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bị đơn thì anh Phan Hoài T đã có văn bản từ chối. Hiện nay phần đất tranh chấp là của bị đơn đứng tên do đó nguyên đơn khởi kiện đòi lại bị đơn không đồng ý.

Đối với yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần đất của ông T4, bà N3 để lại diện tích 1.749m² thuộc thửa 723 tờ bản đồ số 9 mà ông N3 còn đứng tên thì bị đơn rút lại yêu cầu này. Bị đơn thống nhất tự nguyện đưa cho nguyên đơn Phan Hoài T 300.000.000 đồng như bản cam kết ngày 21/10/2022 với điều kiện sau này Phan Hoài T không được yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 723 diện tích 1.749m² tờ bản đồ số 9 của ông N3 và bà T4 để lại. Và với điều kiện các anh em còn lại cũng thống nhất giao đất cho tôi, không yêu cầu chia thừa kế nữa.

Đối với số nợ vay ngân hàng thì vợ chồng bị đơn có vay ngân hàng N4 số tiền 1.000.000.000 đồng. Do không có khả năng nên đã ngưng đóng lãi cho ngân hàng. Nay ngân hàng có yêu cầu độc lập yêu cầu trợ nợ thì phía bị đơn thống nhất trả nợ gốc và lãi theo yêu cầu của ngân hàng. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thực hiện được thì ngân hàng có quyền xử lý tất cả tài sản thế chấp theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị N1 trình bày: Tôi thống nhất với nội dung trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lâm Hoàng N, không trình bày gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thị T1 trình bày: Phần đất tranh chấp giữa Phan Hoài T và Phan Thanh S thì tôi không có ý kiến gì. Tuy nhiên anh Phan Hoài T cất nhà ở đã lâu từ khi cha mẹ còn sống nên không có lý do gì mà bỏ nhà của đưa hết đất cho Phan Thanh S và lý do S kêu ký để sau này tách lại cho anh T nên anh T mới ký tên cho S đứng tên trước. Do đó tôi thống nhất với yêu cầu khởi kiện của anh Phan Hoài T. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì tôi không có yêu cầu chia trong vụ án này, do còn nhiều phần đất khác nên chúng tôi sẽ yêu cầu chia trong vụ án khác nếu anh em không thoả thuận được.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu T2 trình bày: Phần đất tranh chấp giữa Phan Hoài T và Phan Thanh S thì tôi không có ý kiến gì. Tuy nhiên anh Phan Hoài T cất nhà ở đã lâu từ khi cha mẹ còn sống nên không có lý do gì mà bỏ nhà cửa đưa hết đất cho Phan Thanh S và lý do S kêu ký để sau này tách lại cho anh T nên anh T mới ký tên cho S đứng tên trước. Do đó tôi thống nhất với yêu cầu khởi kiện của anh Phan Hoài T. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì tôi không có yêu cầu chia trong vụ án này, do còn nhiều phần đất khác nên chúng tôi sẽ yêu cầu chia trong vụ án khác nếu anh em không thoả thuận được.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Huỳnh N2 trình bày: Tôi thống nhất với nội dung trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lâm Hoàng N, không trình bày gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (đại diện Ngân hàng N4) trình bày: Ngày 07/12/2022 ông Phan Thanh S có ký hợp đồng tín dụng số: 7004-LAV- 202203650 với Ngân hàng N4 – Chi nhánh huyện C để vay tiền. Mục đích vay: Chi phí mua sắm máy móc và xây dựng nhà xưởng sản xuất nước mắm.

  • - Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng, Lãi suất vay: 10,5%/Năm
  • - Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi vay trong hạn
  • - Thời hạn vay: 36 tháng
  • - Hạn trả cuối cùng: 05/12/2025

Tài sản thế chấp là:

  • - Thửa đất số: 52, 56, Tờ bản đồ: 9
  • - Mục đích sử dụng: LNK, T, 2L
  • - Địa chỉ thửa đất: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang
  • - Diện tích đất: 14.212 m²
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 375799, số vào sổ cấp GCN: 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/09/1996.

Các bên thoả thuận thời hạn trả lãi là 03 tháng trả một lần, tuy nhiên từ tháng 06 đến nay ông Phan Thanh S chưa đóng lãi cho ngân hàng nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngoài ra khi vay ông S xin vay với mục đích là mua sắm máy móc và xây dựng nhà xưởng sản xuất nước mắm nhưng thực tế ông S sử dụng vốn không đúng mục đích. Do đó, Ngân hàng N4 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

1/ Yêu cầu ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 phải trả cho Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện C tổng số nợ còn thiếu (gốc, lãi) tạm tính đến ngày 28/08/2024 là 1.050.630.000 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, L tạm tính đến ngày 28/08/2024 là: 50.630.000 đồng. Ngoài số tiền trên ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 phải chịu lãi phát sinh từ ngày 29/8/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả tất nợ.

2/ Trường hợp ông S, bà H2 không có thiện chí trả nợ thì đề nghị được phát mãi tài sản mà ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 đã thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản của ông Phan Thanh S là: Thửa đất số: 52, 56, Tờ bản đồ: 9. Mục đích sử dụng: LNK, T, 2L. Địa chỉ thửa đất: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Diện tích đất: 14.212 m² Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 375799, số vào sổ cấp GCN: 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/09/1996.

Trường hợp toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì Ngân hàng đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo nội dung hợp đồng thế chấp đã ký giữa ngân hàng nông nghiệp và vợ chồng ông Phan Thanh S và Đặng Thị H2 nếu ông S, bà H2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Hoài T thì đề nghị xử lý phần còn lại của tài sản thế chấp sau khi trừ đi phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Phan Thanh S. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu chia thừa kế phần đất tại vị trí VI diện tích 1.749,7m². Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Phan Thanh S về việc trả cho ông Phan Hoài T 300.000.000 đồng. Ông Phan Hoài T từ chối và không được quyền yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất tại vị trí VI diện tích 1.749,7m². Công nhận và ổn định cho ông Phan Hoài T phần đất tại vị trí số I diện tích 524,6m² thuộc thửa 52 và phần đất tại vị trí số III diện tích 3,786,3m² thuộc thửa 56 theo Mảnh trích đo địa chính số 02- 2024 ngày 15/01/2024 của Công ty TNHH Đ1. Buộc ngân hàng N4 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001. Ông Phan Hoài T được quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Buộc ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 trả cho ngân hàng N4 số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 28/08/2024 là 1.050.630.000 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, L tạm tính đến ngày 28/08/2024 là: 50.630.000 đồng. Ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 phải trả lãi phát sinh từ ngày 29/8/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả tất nợ.

Trường hợp ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đối với số tiền trên thì tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001 sau khi trừ đi phần đất tại vị trí số I diện tích 524,6m² thuộc thửa 52 và phần đất tại vị trí số III diện tích 3,786,3m² thuộc thửa 56 đã được công nhận cho ông Phan Hoài T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thấy rằng:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Phan Thanh S trả lại phần đất nguyên đơn đang quản lý sử dụng khoảng 5.000m 2 đất cây lâu năm theo đo đạc thực tế là 4.310,9m² và số tiền 300.000.000 đồng đối với giá trị phần đất 1.749,7m² được tách 1 phần từ thửa 723 tờ bản đồ số 9 của ông Phan Văn N3 và bà Đinh Thị T4. Tại phiên toà nguyên đơn đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất 4.310,9m² và công trình trên đất cho nguyên đơn với số tiền 2.300.000.000 đồng để nguyên đơn di dời đi nơi khác sinh sống, trường hợp nguyên đơn không đồng ý thì bị đơn chỉ đồng ý ổn định cho nguyên đơn phần đất 524,6m² để nguyên đơn ở, còn phần đất 3.786,3m² bị đơn chỉ đồng ý trả giá trị cây trồng, không đồng ý tách quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.

Khi cha mẹ còn sống là ông N3, bà T4 có cho nguyên đơn phần đất theo đo đạc thực tế là 4.310,9m² nguyên đơn đã cất nhà và trồng cây trên đất khoảng năm 1999 cho đến nay, canh tác và ở ổn định. Đến năm 2022 bị đơn Phan Thanh S có làm thủ tục nhận thừa kế do cha mẹ để lại. Theo lời trình bày của nguyên đơn thì khi bị đơn làm thủ tục nhận thừa kế, bị đơn nói với nguyên đơn là ký thủ tục cho Phan Thanh S đứng tên quyền sử dụng đất có phần đất mà nguyên đơn đang ở và canh tác cho dễ làm giấy tờ rồi sau đó mới tách lại phần đất mà nguyên đơn đang ở và canh tác cho nguyên đơn. Ngày 21/10/2022 bị đơn có lập bản cam kết với nội dung tách quyền sử dụng đất của cha mẹ để lại cho Phan Hoài T theo đúng diện tích được cho; phần đất 1.749,7m² trên lộ 925 Phan Thanh S đồng ý đưa 300.000.000 đồng. Từ nội dung bản cam kết ngày 21/10/2022, Biên bản hoà giải và biên bản hoà giải thành ngày 26/7/2024 cũng như tại phiên toà nguyên đơn vẫn đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn cho thấy lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Bị đơn chỉ đồng ý ổn định cho nguyên đơn phần đất 524,6m² để nguyên đơn ở, còn phần đất 3.786,3m² bị đơn chỉ đồng ý trả giá trị cây trồng, không đồng ý tách quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là không có căn cứ, bởi lẽ toàn bộ phần đất 4.310,9m² nguyên đơn đã cất nhà và trồng cây trên đất, đã ở và canh tác từ khi ông N3, bà T4 còn sống. Bị đơn đã có bản cam kết giao lại đất và đã thống nhất trả lại toàn bộ giá trị phần đất tranh chấp cho nguyên đơn. Trước khi chết, ông N3, bà T4 không để lại di chúc do đó các con ông N3, bà T4 được hưởng thừa kế theo pháp luật. Bản cam kết thể hiện rõ nội dung là ông S tách phần đất mà cha mẹ cho ông T, có nghĩa rằng phần đất này không thuộc những phần đất còn lại chưa được chia thừa kế. Do đó, có căn cứ xác định phần đất tranh chấp nguyên đơn được ông N3, bà Tư T5 cho khi còn sống nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ.

Đối với phần đất 1.749,7m² được tách 1 phần từ thửa 723 tờ bản đồ số 9 của ông Phan Văn N3 và bà Đinh Thị T4, ông Phan Thanh S đã rút lại yêu cầu chia thừa kế và tự nguyện trả cho Phan Hoài T 300.000.000 đồng. Ông T thống nhất nhận 300.000.000 đồng và từ chối nhận thừa kế đối với phần đất 1.749,7m². Xét thấy, đây là sự tự nguyện thoả thuận của đương sự nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2] Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4, thấy rằng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 trả cho Ngân hàng N4 số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 1.050.630.000 đồng (Trong đó: nợ gốc là: 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là: 50.630.000 đồng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của ngân hàng là có căn cứ. Bởi lẽ, ông S và bà H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Do đó ngân hàng khởi kiện để thu hồi nợ gốc và lãi là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất đối chiếu với quy định tại Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 thì mức lãi suất thỏa thuận giữa các bên tại thời điểm cho vay là phù hợp. Việc Ngân hàng tính lãi trong hạn 10,5%/ năm và lãi quá hạn (150% lãi suất vay trong hạn) là phù hợp với cách tính và thỏa thuận giữa các bên đã ký kết tại Điều 2 hợp đồng tín dụng số 7004-LAV-202203650 ngày 07/12/2022 nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét hợp đồng thế chấp số 7004-LCP- 202201555/HĐTC ngày 16/11/2022 được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện C là đúng với trình tự, thủ tục của Luật đất đai. Tuy nhiên về nội dung thì phần đất thế chấp có một phần hiện đang tranh chấp có nhà của gia đình ông Phan Hoài T đang sinh sống và ở ổn định từ trước khi ngân hàng nông nghiệp nhận thế chấp. Do ngân hàng không thẩm định rõ ràng tài sản thế chấp trước khi nhận thế chấp để cho ông S vay vốn. Do đó hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần đối với phần đất tranh chấp là 4.310,9m². Ngoài phần đất tranh chấp giữa ông T và ông S thì trường hợp ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N4 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Tại Toà, đại diện ngân hàng N4 thống nhất xử lý tài sản thế chấp ông S đang đứng tên sau khi trừ đi phần đất gia đình ông T đang ở và quản lý diện tích là 4.310,9m² trong trường hợp ông S, bà H2 chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì ngân hàng cho rằng tài sản thế chấp có giá trị lớn nên dù có trừ phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng. Xét thấy yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4 và sự tự nguyện của ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá bị đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng: Điều 115, Điều 158, Điều 166, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 101, 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Hoài T.
  • Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Phan Thanh S.
  • Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu chia thừa kế phần đất tại vị trí VI diện tích 1.749,7m² được tách 1 phần từ thửa 723 tờ bản đồ số 9 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01024 do UBND huyện C cấp ngày 07/3/2008 do ông Lê Hoàng M tặng cho ông Phan Văn N3.
  • Chấp nhận cầu độc lập của Ngân hàng N4.
  • Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Phan Thanh S về việc trả cho ông Phan Hoài T 300.000.000 đồng. Ông Phan Hoài T từ chối và không được quyền yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất tại vị trí VI diện tích 1.749,7m² được tách 1 phần từ thửa 723 tờ bản đồ số 9 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01024 do UBND huyện C cấp ngày 07/3/2008 do ông Lê Hoàng M tặng cho ông Phan Văn N3.
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Công nhận và ổn định cho ông Phan Hoài T phần đất tại vị trí số I diện tích 524,6m² thuộc thửa 52, tờ bản đồ 09 (BĐ 299) và phần đất tại vị trí số III diện tích 3,786,3m² thuộc thửa 56, tờ bản đồ 09 (BĐ 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001.
  • Buộc bị đơn Phan Hoài T tách trả cho Phan Thanh S phần đất tại vị trí số I diện tích 524,6m² thuộc thửa 52, tờ bản đồ 09 (BĐ 299) và phần đất tại vị trí số III diện tích 3,786,3m² thuộc thửa 56, tờ bản đồ 09 (BĐ 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001.

    (Theo Mảnh trích đo địa chính số 02- 2024 ngày 15/01/2024 của Công ty TNHH Đ1).

  • Buộc ngân hàng N4 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001.
  • Ông Phan Hoài T được quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
  • Buộc ông Phan Thanh S và bà Đặng Thị H2 trả cho ngân hàng N4 số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 28/08/2024 là 1.050.630.000 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, L tạm tính đến ngày 28/08/2024 là: 50.630.000 đồng. Ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 phải trả lãi phát sinh từ ngày 29/8/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả tất nợ.
  • Trường hợp ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đối với số tiền trên thì tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số 002999 do UBND huyện C cấp ngày 09/9/1996 cho hộ Phan Văn N3 và để thừa kế cho Phan Thanh S ngày 31/8/2022, theo hồ sơ số 084783.TK.001 sau khi trừ đi phần đất tại vị trí số I diện tích 524,6m² thuộc thửa 52 và phần đất tại vị trí số III diện tích 3,786,3m² thuộc thửa 56 đã được công nhận cho ông Phan Hoài T.

Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Đối với yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của nguyên đơn: Ông Phan Thanh S phải chịu là 300.000 đồng.
  • - Đối với việc ghi nhận sự thoả thuận của nguyên đơn và bị đơn đối với số tiền 300.000.000 đồng: Ông Phan Thanh S phải chịu 7.500.000 đồng. Ông Phan Hoài T phải chịu 7.500.000 đồng.
  • - Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng: Ông Phan Thanh S, bà Đặng Thị H2 phải chịu là 43.518.900 đồng.

Ông Phan Hoài T được nhận lại 7.800.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010997 ngày 30/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Ngân hàng N4 được nhận lại 21.707.850 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003147 ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Chi phí thẩm định, định giá là 52.205.000 đồng. Ông S phải chịu. Ông T đã nộp xong, do đó ông S phải trả lại cho ông T 52.205.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 89/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; Yêu cầu chia thừa kế và Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger