Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 89/2024/DS-ST

Ngày 28-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Tuấn Kiệt
  2. Ông Lê Trường Hận

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như– Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp "Hợp đồng vay tài sản", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 93A/2024/QĐST-DS ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989 và bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Người đại diện theo ủy quyền của ông H và bà H1: Ông Trần Phước T, sinh năm 1986. HKTT: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (Văn bản ủy quyền ngày 04/5/2024).

Bị đơn: Ông Lâm Minh C, sinh năm 1971. HKTT: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Nơi ở hiện nay: Khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu

(Ông T có mặt, ông C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024, các lời trình bày trong quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Trần Phước T là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong vụ án trình bày:

Ông Nguyễn Thành H2 với bà Lê Thị Ánh H1 là vợ chồng. Giữa ông H2 với ông Lâm Minh C là chỗ quen biết làm ăn, ông C nhiều lần vay mượn tiền của ông H2 để trả tiền công cho thợ, nhân công xây dựng. Cụ thể như sau:

  1. Ngày 24/3/2021 vay 30.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  2. Ngày 30/3/2021 vay 20.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  3. Ngày 01/4/2021 vay 30.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  4. Ngày 19/4/2021 vay 150.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  5. Ngày 05/5/2021 vay 20.000.000 đồng, không có làm biên nhận cùng ngày này nhưng có thể hiện trong biên nhận ngày 24/5/2021.
  6. Ngày 24/5/2021 vay 20.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  7. Ngày 02/6/2021 vay 30.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  8. Ngày 16/6/2021 vay 10.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  9. Ngày 22/6/2021 vay 10.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.
  10. Ngày 15/8/2021 vay 10.000.000 đồng, không có làm biên nhận cùng ngày này nhưng có thể hiện trong biên nhận ngày 28/10/2021.
  11. Ngày 29/9/2021 vay 10.000.000 đồng, không có làm biên nhận cùng ngày này nhưng có thể hiện trong biên nhận ngày 28/10/2021.
  12. Ngày 07/10/2021 vay 20.000.000 đồng, không có làm biên nhận cùng ngày này nhưng có thể hiện trong biên nhận ngày 28/10/2021
  13. Ngày 28/10/2021 vay 10.000.000 đồng, có làm biên nhận cùng ngày.

Các biên nhận đều do ông C tự viết và ký tên giao cho ông H2 giữ. Thoả thuận, thời hạn trả nợ gốc là 01 năm sau khi vay, đến nay chưa thanh toán được khoản tiền gốc nào. Mặc dù các biên nhận không thể hiện lãi tuy nhiên các khoản vay này đều có thỏa thuận lãi là 5%/tháng được thể hiện theo Biên nhận lãi ký ngày 02/7/2023 xác định lãi 5%, biên nhận lãi ngày 19/01/2023 ông C xác định còn nợ 230.000.000 đồng tiền lãi và biên nhận ngày 23/12/2023 ông C xác định còn nợ lãi đối với khoản vay 20 triệu là 29 tháng, khoản vay 10 triệu là 32 tháng. Về phương thức thanh toán lãi là hàng tháng. Ông C có trả một phần lãi cho ông H2, tuy nhiên số tiền trả lãi thì không đúng theo thoả thuận và số tiền cụ thể cũng không nhớ được nhưng đến ngày 01/6/2021, thì đã ngưng trả lãi cho cho đến nay.

Nay ông H2 và bà H1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Minh C có nghĩa vụ trả cho ông H2 và bà H1 số tiền như sau:

- Các khoản vay từ ngày 24/3/2021 đến 24/5/2021 là 260.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi 20%/năm tính từ ngày 01/6/2021 đến khi ông C thanh toán xong tất cả các khoản tiền (yêu cầu cả thời gian chờ bản án có hiệu lực). Tạm tính lãi suất đến ngày khởi kiện là 02 năm 11 tháng 06 ngày = 152.500.000 đồng.

- Các khoản vay ngày 02/6/2021 đến ngày 01/7/2021 là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), yêu cầu tính lãi 20%/năm tính từ ngày 01/7/2021 đến khi ông C thanh toán xong tất cả các khoản tiền (yêu cầu cả thời gian chờ bản án có hiệu lực). Tạm tính lãi suất đến ngày khởi kiện là 02 năm 10 tháng 06 ngày = 30.200.000 đồng.

- Các khoản vay từ ngày 15/8/2021 đến ngày 28/10/2021 là 50.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi 20%/năm tính từ ngày 28/10/2021 đến khi ông C thanh toán xong tất cả các khoản tiền. Tạm tính lãi suất đến ngày khởi kiện là 02 năm 6 tháng 08 ngày = 25.200.000 đồng.

Tổng nợ gốc và lãi là 577.900.000 đồng, gồm 370.000.000 đồng tiền nợ gốc và 207.900.000 đồng tiền nợ lãi.

Trong quá trình tố tụng tại Toà, bị đơn ông Lâm Minh C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà nhưng ông không đến tham gia tố tụng và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với lãi suất, xác định ông H2 và bà H1 chỉ yêu cầu lãi suất là 10%/năm với yêu cầu cụ thể như sau: Yêu cầu ông Lâm Minh C phải trả số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01/6/2021 đối với các khoản vay trước ngày 01/6/2021 với số tiền gốc là 270.000.000 đồng, các khoản vay trong tháng 6/2021 thì tính kể từ ngày 22/6/2021 với tổng số tiền vốn là 50.000.000 đồng và các khoản vay còn lại thì tính từ ngày 28/10/2021 với tổng số tiền gốc là 50.000.000 đồng cho đến khi ông C thanh toán xong tất cả các khoản tiền, yêu cầu cả thời gian chờ bản án có hiệu lực, tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 117.591.000 đồng, không yêu cầu gì khác.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Ánh H1 đối với ông Lâm Minh C về số tiền lãi là 90.309.000 đồng; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 10%/năm cụ thể là 117.591.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn là trả nợ vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi ở hiện nay tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng, triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Điều này chứng tỏ bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên toà đại diện nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện nên căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có quyền rút một phần yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Ánh H1 đối với ông Lâm Minh C về số tiền lãi là 90.309.000 đồng

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng.

Thấy rằng: Các biên nhận do nguyên đơn cung cấp có nội dung phù hợp với nội dung nguyên đơn trình bày về việc trong thời gian từ ngày 24/3/2021 đến ngày 28/10/2021, bị đơn có nhiều lần vay của nguyên đơn tổng số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng, các biên nhận này đều có thể hiện chữ ký và đề tên người mượn bị đơn và theo nguyên đơn xác định nội dung các biên nhận do chính bị đơn viết giao cho nguyên đơn giữ. Toà án đã tiến hành tống đạt cho bị đơn biết về nội dung yêu cầu khởi kiện nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trong thời gian từ ngày 24/3/2021 đến ngày 28/10/2021, bị đơn có nhiều lần vay của nguyên đơn tổng số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng.

Nguyên đơn trình bày từ khi vay đến nay phía bị đơn chưa thanh toán số tiền vốn vay nào cho nguyên đơn, phía bị đơn không có ý kiến phản đối, vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu trả số tiền vốn vay của nguyên đơn.

[5] Xét yêu cầu tính lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01/6/2021 đối với các khoản vay trước ngày 01/6/2021 với số tiền gốc là 270.000.000 đồng, các khoản vay trong tháng 6/2021 thì tính kể từ ngày 22/6/2021 với tổng số tiền vốn là 50.000.000 đồng và các khoản vay còn lại thì tính từ ngày 28/10/2021 với tổng số tiền gốc là 50.000.000 đồng cho đến khi ông C thanh toán xong tất cả các khoản tiền, yêu cầu cả thời gian chờ bản án có hiệu lực, tạm tính đến ngày 28/8/2024 là 117.591.000 đồng, thấy rằng: Mặc dù nội dung các biên nhận vay tiền không thể hiện lãi suất tuy nhiên nguyên đơn xác định các khoản vay này đều có thỏa thuận lãi là 5%/tháng được thể hiện theo Biên nhận lãi ký ngày 02/7/2023 xác định lãi 5%, biên nhận lãi ngày 19/01/2023 bị đơn xác định còn nợ 230.000.000 đồng tiền lãi và biên nhận ngày 23/12/2023 bị đơn xác định còn nợ lãi đối với khoản vay 20 triệu là 29 tháng, khoản vay 10 triệu là 32 tháng. Tuy nhiên từ ngày 01/6/2021 thì bị đơn đã không trả lãi cho nguyên đơn cho đến nay. Bị đơn đã được thông báo nội dung này nhưng không có ý kiến phản đối nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến này của nguyên đơn, xác định đây là khoản vay có lãi và từ ngày 01/6/2021 thì bị đơn đã không thanh toán khoản tiền lãi nào cho nguyên đơn. Mặc dù lãi suất thể hiện theo các Biên nhận là 5% là vượt quá quy định tuy nhiên các biên nhận thể hiện bị đơn chưa trả tiền lãi cho nguyên đơn và hiện nay nguyên đơn cũng yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi với lãi suất là 10%/năm là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Vì vậy, số tiền lãi mà bị đơn cần phải thanh toán cho nguyên đơn cụ thể như sau:

- Các khoản vay từ ngày 24/3/2021 đến ngày 24/5/2021, tổng vốn là 270.000.000 đồng, thời gian tính lãi từ ngày 01/6/2023 với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 87.525.000 đồng.

- Các khoản vay từ ngày 02/6/2021 đến ngày 22/6/2021, tổng vốn là 50.000.000 đồng, thời gian tính lãi từ ngày 22/6/2021 với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 15.900.000 đồng.

- Các khoản vay từ ngày 15/8/2021 đến ngày 28/10/2021, tổng vốn là 50.000.000 đồng, thời gian tính lãi từ ngày 28/10/2021 với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 14.166.000 đồng.

Tổng tiền lãi là 117.591.000 đồng.

Ngoài ra, kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (kể từ ngày 29/8/2024), bị đơn phải chịu tiền lãi theo tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[6] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[7] Về án phí: Bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ là 487.591.000 đồng nên phải chịu án phí là 23.503.500 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu của ông Nguyễn Thành H2 với bà Lê Thị Ánh H1 yêu cầu đối với ông Lâm Minh C về số tiền lãi là 90.309.000 đồng
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành H2 với bà Lê Thị Ánh H1 đối với ông Lâm Minh C về việc tranh chấp vay tài sản.
  3. Buộc ông Lâm Minh C có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Thành H2 với bà Lê Thị Ánh H1 số tiền nợ vay là 487.591.000 đồng (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm chín mươi mốt ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) và nợ lãi là 117.591.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu năm chín mươi mốt ngàn đồng).

  4. Kể từ ngày 29 tháng 8 năm 2024 cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  5. Về án phí: Ông Lâm Minh C phải chịu án phí là 23.503.500 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm lẻ ba ngàn năm trăm đồng).
  6. Ông Nguyễn Thành H2 với bà Lê Thị Ánh H1 không phải chịu án phí. Ông H2 đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 13.952.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002669 ngày 15/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • - CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 89/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H - Lâm Minh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger