|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi và ông Lê Thanh Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Bích T, sinh ngày 05/5/1980, nơi sinh: C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con Trần Văn T1 (đã chết) và Lê Thị H, bị cáo có chồng là Nguyễn Thanh V, con có 02 người; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc C, Luật sư của Văn phòng L2 Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
Bị hại: Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thu H2, sinh năm 1965 và Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1980; cùng cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt);
Người làm chứng: Nguyễn Thanh V, sinh năm 1975 (có mặt), Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1981 (vắng mặt), Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1975 (có mặt), Phạm Thị Kim L1, sinh năm 1997 (vắng mặt), Nguyễn Thanh H4, sinh năm 1980 (vắng mặt), Nguyễn Văn H5, sinh năm 1961 (vắng mặt), Ngô Bá P, sinh năm 1984 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn từ trước nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, Nguyễn Thu H2 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Trúc L (con của H2) đến chỗ H2 bán nước giải khát vườn dừa của Ngô Bá P để đánh Trần Thị Bích T. Khoảng 15 phút sau, L thấy T chạy xe môtô chở theo thùng xốp lớn đựng chai nước giải khát đến dừng xe cách chỗ bà H2 bán nước khoảng 10m. L lấy 02 khúc mía tươi cầm trên 02 tay chạy đến đánh liên tiếp nhiều cái trúng vào mũ bảo hiểm của T đang đội trên đầu làm vỡ phần kết mũ dài phía trước, cánh tay phải gây 01 vết bầm và 01 vết trầy xước nhỏ ở bắp tay phải, vùng lưng nhưng không gây thương tích. Lúc này, Nguyễn Thanh H3 (em chồng của T), Nguyễn Thanh V (chồng của T) can ngăn. H2 lấy 01 cái ghế nhựa (loại ghế xếp màu đỏ) ném trúng vào mặt của T gây 01 vết xây xát nhỏ dạng chấm ở mí mắt trái làm cho T và xe của T cùng ngã xuống đường. T lấy 01 cây dao có sẵn trong thùng xốp đựng nước giải khát của T, liền quay người lại, đâm trúng vùng mặt phải, mặt sau ½ trên cánh tay phải và làm rách thân áo khoác bên phải phía trước của Nguyễn Thị Ngọc H1, gây thương tích. H1 dùng 02 tay quơ đánh lại và dùng chân phải đạp 01 cái vào bụng của T làm cho T ngã xuống đất. Lúc này, Nguyễn Tuấn K đỡ T đứng lên và kêu T đi về, T chạy xe môtô đi về nhà. Riêng, H1 được đưa đến Bệnh viện Đ.
Căn cứ Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/24/KLTTCT-TTPY ngày 09/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận kết luận thương tích như sau: Nguyễn Thị Ngọc H1 tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên là 04% (do vật sắc nhọn gây nên).
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C khởi tố và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Thị Bích T.
Cáo trạng số 75/CT-VKSCĐ-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Trần Thị Bích T về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Chủ tọa công bố Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/24/KLTTCT-TTPY ngày 09/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Bích T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường số tiền 20.000.000 đồng như theo yêu cầu bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 cái mũ bảo hiểm, 01 khúc mía, 01 cái ghế xếp bằng nhựa, 01 cây dao và nhiều đồ vật có liên quan.
Người bào chữa cho bị cáo, Luật sư Nguyễn Ngọc C trình bày: Thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát. Nguyên nhân xảy ra sự việc do sự tấn công từ phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H2, bà L; bị cáo bị tổn thương về sức khỏe nhưng không yêu cầu xử lý. Từ giai đoạn điều tra bị cáo luôn thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, khắc phục hậu quả và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương, hoàn cảnh gia đình khó khăn, lao động chính trong gia đình phải mưu sinh để nuôi các con đi học. Đối chiếu quy định pháp luật thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng là quá cao đối với hành vi của bị cáo; mong Hội đồng xét xử có sự xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xác định không có lời lẽ xúc phạm bà H2; không có ý kiến tranh luận, chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền là 20.000.000 đồng, bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng ở Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc H1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 20.000.000 đồng và yêu cầu Hội đồng xét xử xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thu H2 xác định do T có lời lẽ xúc phạm đến bà H2 nên bà H2 chủ động rủ L đánh T. Tại phiên tòa, bà H2 thừa nhận việc đánh T là vi phạm pháp luật nếu T thừa nhận có lời lẽ xúc phạm đến bà H2 thì bà H2 sẽ nói H1 (con dâu bà H2) rút lại yêu cầu khởi tố vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Trúc L xác định bà H2 có gọi điện rủ L đánh T do T có lời lẽ xúc phạm bà H2. Bà L thừa nhận việc đánh T là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu kìm chế khi mẹ ruột bị xúc phạm.
Trong phần đối đáp, Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm mức hình phạt tù đối với bị cáo. Bởi lẽ, bị cáo có hành vi phạm tội do bị người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tấn công trước nhưng bị cáo lại sử dụng hung khí nguy hiểm để chống trả gây tổn hại đến sức khỏe, xâm phạm quyền nhân thân của người khác. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm để răn đe, đảm bảo tình hình chính trị, an ninh tại phương. Từ phân tích nêu trên nên chúng tôi vẫn giữ quan điểm luận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người làm chứng H3, L1, H4, H5, P vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Kết luận giám định thương tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan.
Từ đó, có căn cứ xác định, bị cáo T đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm gây thương tích cho bị hại H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 04%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại. Bên cạnh đó, bị cáo còn có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính để nuôi 02 con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và mang ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục cho người phạm tội biết thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả thì sẽ được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian tự cải tạo, sửa đổi bản thân, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Ngọc H6 yêu cầu bồi thường với tổng số tiền 20.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là người trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của bị hại và bị hại yêu cầu bồi thường các khoản tiền thuốc, mất thu nhập, tổn thất tinh thần là phù hợp với quy định pháp luật và tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường toàn bộ số tiền mà bị hại yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trần Thị Bích T có trách nhiệm bồi thường cho cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc H1 số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Giao cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc H1 số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo Trần Thị Bích T giao nộp cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc theo biên lai số 0002162 ngày 26/8/2024.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái mũ bảo hiểm màu xám, kiểu đội nửa đầu và có kết dài bị vỡ mất một phần bên phải; 01 khúc mía (đã khô) dài 38 cm; 01 cái ghế xếp bằng nhựa màu đỏ - trắng, cao 20 cm, kích thước mặt ghế 28 cm × 20 cm; 01 cây dao có cán dẹp bằng nhựa màu xanh, dài 09 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng hơi bị cong dài 6,5 cm và nhiều đồ vật có liên quan. Đây là vật chứng dùng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích T phạm tội "Cố ý gây thương tích";
Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích T 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, được tính kể từ ngày tuyên án 27/8/2024.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Trần Thị Bích T có trách nhiệm bồi thường cho cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc H1 số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Giao cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc H1 số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bị cáo Trần Thị
Bích T giao nộp cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc theo biên lai số 0002162 ngày 26/8/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với án phí) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 cái mũ bảo hiểm màu xám, kiểu đội nửa đầu và có kết dài bị vỡ mất một phần bên phải; 01 khúc mía (đã khô) dài 38 cm; 01 cái ghế xếp bằng nhựa màu đỏ - trắng, cao 20 cm, kích thước mặt ghế 28 cm × 20 cm; 01 cây dao có cán dẹp bằng nhựa màu xanh, dài 09 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng hơi bị cong dài 6,5 cm và nhiều đồ vật có liên quan.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Thị Bích T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Ngọc Tiền |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án treo
