Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/6/2024

V/v Xin ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Ka

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiệt

Ông Quách Tử Điệc

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Ông Trần Long Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, nuôi con.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị K, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Lê Thanh Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Thị K trình bày:

Qua quen biết chị K và anh Lê Thanh Đ có tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 85, ngày 04/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Đ có thói quen ăn chơi bên ngoài, không chăm lo cho gia đình, còn hay sử dụng bạo lực về tinh thần mỗi khi anh chị cãi vã. Bản thân chị K đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn và nhiều lần khuyên ngăn anh Đ nhưng không được. Anh chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay, chị K đã dọn ra ngoài ở trọ, từ lúc ly thân anh Đ cũng không có biện pháp hàn gắn hôn nhân với chị K.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thanh Đ.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Lê Ngọc T, sinh ngày 30/12/2011, cháu Lê M, sinh ngày 06/10/2014, cháu Lê Ngọc T1, sinh ngày 24/10/2016. Khi ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Thanh Đ vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

- Tại phiên tòa, chị Lê Thị K trình bày chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Lê Thanh Đ vắng mặt tại phiên xét xử.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long:

Căn cứ Điều 147, 217, 219, 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ đối với yêu cầu của chị Lê Thị K đối với yêu cầu buộc anh Lê Thanh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Ngọc T, cháu Lê M, cháu Lê Ngọc T1 mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi 03 cháu đủ 18 tuổi.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kiều .

Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị K được ly hôn với anh Lê Thanh Đ.

Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc T, sinh ngày 30/12/2011, cháu Lê M, sinh ngày 06/10/2014, cháu Lê Ngọc T1, sinh ngày 24/10/2016 cho chị Lê Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Thanh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu T, cháu M, cháu T1 mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị K nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị K và anh Lê Thanh Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 85, ngày 04/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị K: Chị K trình bày trong thời gian chung sống chị và anh Đ xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh Đ không chăm lo cho cuộc sống gia đình mà chỉ lo nhậu nhẹt, lúc nhậu say anh Đ còn sử dụng bạo lực với chị K nhưng chị không trình báo chính quyền địa phương vì vẫn muốn hàn gắn hôn nhân. Chị đã dọn nhà ra ở trọ làm việc từ cuối năm 2021 đến nay. Từ lúc chị rời nhà đi anh Đ cũng không liên lạc với chị K.

Xét thấy anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ nhưng anh vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên xét xử. Quá trình xác minh tại địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm rõ do chị K và anh Đ không có trình báo. Toà án đã triệu tập anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ đều vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh Đ không còn tha thiết đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hoà giải đoàn tụ. Chị K xác định không còn tình cảm với anh Đ và kiên quyết ly hôn, chị và anh Đ cũng không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng nên việc chị K yêu cầu ly hôn với anh Đ là có cơ sở. Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận cho chị K được ly hôn với anh Đ.

[4] Về con chung: Chị K và anh Đ có 03 con chung là cháu Lê Ngọc T, sinh ngày 03/12/2011, cháu Lê M, sinh ngày 06/10/2014, cháu Lê Ngọc T1, sinh ngày 24/10/2016. Xét các cháu đã được chị K chăm sóc và nuôi dưỡng từ thời điểm anh chị ly thân đến nay. Anh Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do, cũng như không có ý kiến trình bày về yêu cầu nuôi con chung của anh gởi đến Toà án. Tại Biên bản làm việc ngày 03/5/2024 cháu T,

3

cháu M và cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với chị K. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu T, cháu M và cháu T1 cũng như dựa trên nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T, cháu M và cháu T1 cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị K rút lại yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên căn cứ Điều 217, 219 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này và không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc chị Lê Thị K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

[7] Ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 219, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ đối với yêu cầu của chị Lê Thị K đối với yêu cầu buộc anh Lê Thanh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Ngọc T, cháu Lê M, cháu Lê Ngọc T1 mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi 03 cháu đủ 18 tuổi.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều .

2.1. Về hôn nhân:

Chị Lê Thị K được ly hôn với anh Lê Thanh Đ.

2.2. Về con chung:

Giao cháu Lê Ngọc T, sinh ngày 30/12/2011, cháu Lê M, sinh ngày 06/10/2014, cháu Lê Ngọc T1, sinh ngày 24/10/2016 cho chị Lê Thị K trực tiêp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

Anh Lê Thanh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3. Về tài sản chung và nợ chung:

Chị Lê Thị K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000848 ngày 07/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị K đã nộp xong.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: 02;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Long Hồ: 02;
  • - Đương sự: 02;
  • - Ủy ban nhân dân xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Mai Ka

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều . 2.1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị K được ly hôn với anh Lê Thanh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger