|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lý Thị Thiên Nga;
Bà Hà Thị Mão.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Duy Đ, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1992, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ1 và bà Trịnh Thị N; có vợ là Bùi Thu C và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 13/5/2020, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2021; tại Bản án số 195/2021/HS-ST ngày 16/12/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/9/2023 (đều chưa được xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 05/3/2024; có mặt.
- Bị hại: Cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2007; nơi cư trú: Số A đương N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người giám hộ cho bị hại: Anh Nguyễn Duy N1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số A đương N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 16/12/2023, Phạm Duy Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave màu xanh, không rõ biển kiểm soát, từ nhà đến quán Đ2, địa chỉ số A Đà Nẵng, L, Ngô Q, Hải Phòng để chơi game. Khi tới nơi, Đ để xe máy ở tầng 1 và lên tầng 2 ngồi chơi game ở bàn máy số 24. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ chuẩn bị đứng dậy ra về thì phát hiện tại mặt bàn máy số 25 bên tay trái Đ có 01 điện thoại Iphone 12 Promax của cháu Nguyễn Duy K (sinh ngày: 28/8/2007, nơi cư trú: số A đường N, M, N, Hải Phòng) đang cắm sạc, không có ai trông coi, Đ nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đ dùng tay trái rút điện thoại ra khỏi dây sạc rồi cất điện thoại vào trong áo khoác đang mặc, đi ra thanh toán tiền chơi game. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô đến khách sạn T (địa chỉ: Số E Lô B L, N, Hải Phòng) gặp Hồ Văn B (sinh năm: 1996, nơi thường trú: số B L, Cầu Đ, N, Hải Phòng) nhờ bán hộ. Qua kiểm tra thấy điện thoại bị khoá màn hình nên anh B trả lại Đ, Đ nhận điện thoại và ra về (B không biết điện thoại do Đ trộm cắp mà có).
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ quay lại khách sạn T đón và đưa B về tới nhà B thuê tại số C V, V, Lê C1, Hải Phòng thì bị Công an phường V, L kiểm tra, phát hiện Đ đang cất giữ chiếc điện thoại trên trong người nên đã yêu cầu Đ về Cơ quan Công an để làm việc. Sau đó Công an phường V đã tạm giữ điện thoại và giải quyết cho Đ về gia đình.
Ngày 17/12/2023, cháu K đến Công an phường L trình báo sự việc nêu trên.
Ngày 02/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L bàn giao hồ sơ liên quan đến Phạm Duy Đ cùng chiếc điện thoại thu giữ của Đ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N để điều tra, làm rõ.
Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 11/01/ 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 Pro max, màu đen, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại trị giá 10.500.000 đồng.
Về đồ vật tài sản tạm giữ và xử lý vật chứng: 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, 128GB, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu của cháu Nguyễn Duy K. Ngày 07/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 607/QĐ-ĐCSHS trả lại tài sản trên cho cháu K.
Cáo trạng số 85/CT-VKSNQ, ngày 02/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố bị cáo Phạm Duy Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Duy Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố. Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên toà
giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Duy Đ như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Duy Đ từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nhận định các tình tiết của vụ án:
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, tại quán Đ2 ở địa chỉ số A Đà Nẵng, L, Ngô Q, Hải Phòng, Phạm Duy Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 128Gb của cháu Nguyễn Duy K theo Kết luận giám định trị giá 10.500.000 đồng nên hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Duy Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích do lỗi cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo bị truy tố, xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng đã truy tố.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Về hình phạt:
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
· Về trách nhiệm dân sự:
[8] Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen của cháu Nguyễn Duy K. Ngày 07/3/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho cháu K nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Duy Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Duy Đ phải nộp người 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cường |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Duy Đ
