Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 08 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh.

Ông Lê Viết Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20/08/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 08/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST- HS ngày 08/08/2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn T – sinh ngày 05/4/1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; H và tên bố: Nguyễn Văn L - sinh năm: 1966; Họ và tên mẹ: Trần Thị H1 - sinh năm: 1969; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị O - sinh năm: 1998; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con: 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên toà)

* Người làm chứng:

  1. Phùng Văn H2, sinh năm 1982.

Địa chỉ thôn V, xã T, huyện M, Hà Nội.

* Người chứng kiến:

  1. Nguyễn Đức H3, sinh năm 1981.

Địa chỉ thôn V, xã T, huyện M, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực thôn V, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội tổ công tác Công an xã Đ phối hợp cùng công an xã T đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T (sinh năm 1996) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng liên quan và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, T bắt xe bus đi lên khu vực K thuộc thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông không biết họ tên, năm sinh và địa chỉ hỏi mua được 02 (hai) ống hút nhựa màu vàng bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine được để trong vỏ bao thuốc lá T với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu trong người rồi bắt xe bus từ khu vực K, thị trấn Đ về thôn V, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội thì xuống xe để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi T đang đi bộ đến khu vực sân bóng thôn V, xã T thì bị Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T tại thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội, kết quả: không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

* Vật chứng vụ án

Quá trình bắt giữ đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm: 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng đều chứa tinh thể màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 8329/KLGĐ ngày 23/12/2023 của phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,262 gam".

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 163/KLGĐ ngày 17/6/2024 của V, kết luận: “Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/12/2023 và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Văn T có hội chứng nghiện chất gây ảo giác trên người bệnh động kinh toàn thể cơn lớn, chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.2/G40.6. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T tại khu vực K, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 15/12/2023: Quá trình điều tra, không xác định được tên họ, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp tài liệu hồ sơ của vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 06/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo: Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải.

* Về tội danh và hình phạt:

  1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 13 (mười ba) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,234 gam ma túy loại Methamphetamine. Trên các mép niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn T và những người có liên quan.

* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] - Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.

HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực thôn V, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,262 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an xã Đ phối hợp cùng công an xã T phát hiện, bắt quả tang.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

[3] Xét nhân thân bị cáo: không tiền án, không tiền sự.

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:

  • - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không.
  • - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
    • + Bị cáo thành khẩn khai báo.
    • + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
    • + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn.
    • + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
    • + Bị cáo bị bệnh động kinh theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.2/G40.6
    • + Bị cáo đang nuôi con nhỏ 4 tuổi.
  • (có tài liệu chứng minh lưu giữ hồ sơ).

Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Theo điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Không có. Hội đồng xét xử không xét.
  • - Về xử lý vật chứng, xét thấy cần:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,234 gam ma túy loại Methamphetamine. Trên các mép niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn T và những người có liên quan.

[7] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T tại khu vực K, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 15/12/2023: Quá trình điều tra, không xác định được tên họ, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Không có.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,234 gam ma túy loại Methamphetamine. Trên các mép niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn T và những người có liên quan. (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/08/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh)

* Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Công an ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát NDTPHN
  • - Sở tư pháp HN
  • - Trại giam HN
  • - Thi hành án dân sự huyện Mê Linh
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban ND cấp xã nơi bị cáo cư trú
  • - Lu hồ sơ vụ án;
  • - Lu VP;
  • - Bị cáo, Ngời tham gia tố tụng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trung tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger