|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày 19-09-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hằng.
- Ông Lê Sỹ Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn H, sinh năm 2002 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Mường Khoa, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn K (đã chết) và con bà: Hoàng Thị P - sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;
Tiền sự: Bị cáo Lường Văn H có 02 tiền sự, cụ thể: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 16/01/2024 của công an xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt Lường Văn H bằng hình thức Phạt tiền số tiền xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Lường Văn H chưa nộp phạt. Tại Quyết định số 04/2024/QĐ – TA ngày 21/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, Lường Văn H chưa chấp hành.
Tính đến ngày 21/02/2024, Lường Văn H chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính đối với 02 Quyết định nêu trên.
Về nhân thân:
- + Ngày 19/4/2023, Lường Văn H bị Công an xã M, huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tính đến ngày 16/01/2024 (ngày Lường Văn H tái phạm) bị cáo được coi là chưa xử lý vi phạm hành chính.
- + Ngày 15/3/2024, Lường Văn H bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Lai Châu bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xử phạt Lường Văn H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/03/2024.
Bị cáo Lường Văn H hiện tại chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Hồng Ca theo Quyết định Thi hành án phạt tù số: 74/2024/QĐ-CA ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- - Bị hại: Chị Liêu Thị N, sinh năm 1997 và anh Phùng Văn T, sinh năm 1997, cùng trú tại: Bản M, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Chị Liêu Thị N đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của anh Phùng Văn T (vắng mặt).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1963, trú tại tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời khai của bị cáo Lường Văn H: Tối ngày 21/02/2024, do bản thân H là người nghiện chất ma túy nhưng không có tiền mua ma túy để sử dụng nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của vợ chồng chị Liêu Thị N và anh Phùng Quang T1 trú cùng bản với H để mang đi cầm cố lấy tiền mua ma túy sử dụng. Sau đó, H đến nhà Lù Văn Y, sinh năm 1997, trú cùng bản để rủ Y cùng nhau tìm cách lừa đảo lấy chiếc xe mô tô của gia đình chị N mang ra thị trấn T cầm cố lấy tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, Y đồng ý. Sau khi bàn bạc, thống nhất Hặc 01 mình đi đến nhà chị N để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị N, còn Y ở nhà đợi. Tại nhà chị N, H thấy chỉ có chị N ở nhà nên H nói dối chị N là cho H mượn xe để hôm sau đi xuống bản Bút Dưới, xã T, huyện T để đi dự đám cưới, hẹn hôm sau H sẽ trả. Do tin tưởng nên chị N đồng ý cho H mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-394.77 và kèm theo 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 027292 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 20/6/2017, biển số đăng ký 25B1-394.77 mang tên Lò Văn P1 (chiếc xe này chị N mua lại của anh P1 từ năm 2018). Sau khi mượn được xe mô tô, H điều khiển xe mô tô về và chở
Y đi đến nhà ông Phạm Văn C, tại tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T để hỏi cầm cố. Quá trình đi đường H và Y thống nhất sẽ cầm cố chiếc xe mô tô vừa chiếm đoạt được giá 3.000.000 đồng và lấy lại chiếc xe mô tô trước đó mà H với Y đã cầm cố chỗ ông C với số tiền 700.000 đồng (đây là xe mô tô của anh trai Y). Tại nhà ông C, Y nói dối là xe của H muốn cầm cố số tiền 3.000.000 đồng và muốn chuộc lại chiếc xe mà Y và H đã cầm cố trước đó nên ông C kiểm tra xe và chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy trùng khớp nên ông C đồng ý và đưa cho Y số tiền 2.300.000 đồng (đã trừ 700.000 đồng tiền cầm cố chiếc xe trước đó, không tính lãi, việc cầm cố không thoả thuận lãi suất cụ thể). Đồng thời, H và Y hẹn ông C lúc nào có tiền sẽ đến lấy lại xe, ông C đồng ý rồi H rủ Y đi tìm mua ma tuý để cùng nhau sử dụng, Y đồng ý và điều khiển xe mô tô chở H đến bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua ma tuý. Tại đây, Y gặp và mua được của 01 người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroin với giá 2.300.000 đồng. Sau đó, Y điều khiển xe mô tô chở H về nhà Y để ăn ở, sinh hoạt và cùng nhau sử dụng hết số H1 đã mua được. Ngày 22/02/2024, H đến nhà chị N nói dối chiếc xe chị N cho H mượn bị Cảnh sát giao thông giữ hẹn hôm sau nộp phạt sẽ đem xe mô tô về trả cho chị N, chị N đồng ý nhưng nhiều ngày hôm sau H vẫn không đem trả xe mô tô về trả cho chị N. Do không có tiền mua ma túy để sử dụng nên mấy ngày hôm sau H và Y tiếp tục đến nhà ông C để lấy thêm số tiền 2.000.000 đồng. Qua trao đổi, ông C nói chiếc xe này trị giá khoảng 5.000.000 đồng nếu bán thì ông sẽ mua với giá 5.000.000 đồng, H đồng ý nên ông C đưa cho Y thêm số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, H tiếp tục rủ Y đi tìm mua ma tuý để cùng nhau sử dụng, Y đồng ý và điều khiển xe mô tô chở H đến bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua ma tuý. Tại đây, Y gặp và mua được của 01 người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroin với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, Y điều khiển xe mô tô chở H về nhà Y để ăn ở, sinh hoạt và cùng nhau sử dụng hết số H1 đã mua được. Do đã bán xe của chị N, lo sợ chị N sẽ đòi lại tài sản nên H bỏ lên xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu để làm vàng. Đến ngày 06/3/2024, chị N phát hiện chiếc xe mô tô của mình đã bị H bán cho ông C nên đã làm đơn tố giác Lường Văn H đến Công an xã M, huyện T để giải quyết. Ngày 12/3/2024, Công an xã M, huyện T đã chuyển tố giác của chị Liêu Thị N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 20/3/2024, Lường Văn H bị Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện T, tỉnh Lai Châu ra Quyết định khởi tố vụ án số 20, Quyết định khởi tố bị can số 28, Lệnh tạm giam số 76 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Qua quá trình kiểm tra, xác minh ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lường Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS, ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đen, BKS: 25B1-394.77, số khung: 3606EY133462, số máy: JA36E0294401 có trị giá là 5.000.000 đồng.
Đối với Lù Văn Y, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh tại địa phương xác định có người tên Lù Văn Y nhưng đi khỏi địa phương từ cuối tháng 02/2024, hiện gia đình và chính quyền địa phương không biết đi đâu, làm gì, ở đâu.
* Vật chứng của vụ án: Vật chứng thu giữ của ông Phạm Văn C: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-394.77 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 027292 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 20/6/2017, biển số đăng ký 25B1-394.77 mang tên Lò Văn P1.
Bản Cáo trạng số 55/CT -VKS - TU, ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lường Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST, ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo Lường Văn H phải chấp hành hình phạt của hai bản án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại chiếc xe do bị cáo Lường Văn H lừa đảo chiếm đoạt và không đề nghị gì thêm nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Văn C yêu cầu Lường Văn H phải bồi hoàn số tiền 5.000.000 đồng là tiền đã bỏ ra mua xe mô tô, xét thấy yêu cầu của ông C là phù hợp nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo H phải hoàn trả cho ông Phạm Văn C số tiền 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Bằng thủ đoạn gian dối là mượn xe mô tô để sử dụng làm phương tiện đi lại, tối ngày 21/02/2024, tại bản Mường Khoa, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lường Văn H đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-394.77 trị giá 5.000.000 đồng của vợ chồng chị Liêu Thị N và anh Phùng Văn T rồi mang bán cho ông Phạm Văn C lấy số tiền 5.000.000 đồng tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lường Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo H có có nhân thân xấu, bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Toà án nhân dân huyện Tam Đường xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo có 02 tiền sự đều liên quan đến hành vi sử dụng trái
phép chất ma tuý chưa được xoá tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do vậy quá trình lượng hình Hội đồng xét xử cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn đen, biển kiểm soát 25B1-394.77 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 027292 do Phòng C1 công an tỉnh L cấp ngày 20/6/2017, biển số đăng ký 25B1-394.77 mang tên Lò Văn P1 là tài sản hợp pháp của gia đình chị Liêu Thị N. Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe mô tô trên cho gia đình chị Liêu Thị N là đúng quy định. Chị N, anh T đã nhận lại chiếc xe mô tô do bị cáo H chiếm đoạt và không đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C yêu cầu bị cáo H hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng, xét thấy ông C không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô mà H bán cho ông C là do phạm tội mà có và số tiền 5.000.000 đồng là số tiền thực tế mà ông C đã đưa cho H, do vậy yêu cầu của ông C là có căn cứ, HĐXX buộc bị cáo Lường Văn H phải hoàn trả cho ông Phạm Văn C số tiền 5.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo Lường Văn H thuộc diện hộ gia đình cận nghèo và bị cáo xin được miễn án phí nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Các đối tượng, hành vi liên quan đến vụ án:
Trong vụ án này, ông Phạm Văn C là người đã mua xe mô tô của Lường Văn H do phạm tội mà có. Quá trình điều tra ông C không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là phù hợp.
Trong vụ án này, Lường Văn H khai đã bàn bạc thống nhất với Lù Văn Y để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Liêu Thị N. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh tại địa phương, hiện Y không có mặt tại địa phương không biết đi đâu, làm gì, từ cuối tháng 02/2024 đến nay. Ngoài lời khai duy nhất của Lường Văn H không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi của Lù Văn Y. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách ra, khi nào triệu tập được Lù Văn Y sẽ làm rõ xử lý sau theo quy định.
Trong vụ án này, Lường Văn H khai sau khi có tiền do phạm tội mà có H đã mua Heroin của những người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại bản C, thị trấn T, huyện T rồi sử dụng hết. Quá trình điều tra không xác định được những người này nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với hành vi cầm cố tài sản của ông Phạm Văn C, do ông C không có giấy phép kinh doanh mà vẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ nên kiến nghị Công an huyện T xem xét xử lý đối với hành vi của ông Phạm Văn C theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lường Văn H 01 năm tù.
Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST, ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo Lường Văn H phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579; Điều 580 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lường Văn H phải hoàn trả cho ông Phạm Văn C, sinh năm 1963, trú tại tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo Lường Văn H.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 BLHS
