Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 18/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Đinh Tuấn Đạt

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa:

Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Trần Xuân T

sinh năm 1987, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân T1 – sinh năm 1955 và bà Lành Thị K – sinh năm 1962 (đã chết); Chưa có vợ con;

Tiền án:

  • - Tại Bản án số 11/2011/HSST ngày 14/4/2011 Toà án nhân dân huyện Đạ Hoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Trần Xuân T 03 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý”;
  • - Tại Bản án số 19/2014/HSST ngày 04/4/2014, Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trần Xuân T 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Tại Bản án số 80/2016/HSPT ngày 21/3/2016, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có";
  • - Tại Bản án số 77/2017/HSST ngày 20/12/2017, Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trần Xuân T 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/4/2023.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 08/2006/HSST ngày 21/02/2006, Trần Xuân T bị Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024 đến nay (Có mặt)

2/ Nguyễn Hữu T2

sinh năm 1981, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu B – sinh năm 1958 và bà Mai Thị H – sinh năm 1956; Có vợ tên Dương Thanh T3 – sinh năm 1988 (đã ly hôn); chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/3/2024 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện đang tại ngoại; (Có mặt)

- Bị hại: Chị Mai Tú N – sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Xuân T là đối tượng nghiện ma tuý và có 04 tiền án về các tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý”, “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chưa được xoá án tích.

Buổi sáng ngày 23/3/2024, Trần Xuân T và Nguyễn Hữu T2 (bạn T) chơi game với nhau tại nhà của T thuộc ấp P, xã P, huyện T. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến quán tạp hoá của bà Phan Thị Ngọc H1 tại ấp P, xã P, huyện T, để mua thẻ cào điện thoại. Lúc này, chị Mai Tú N (con dâu của bà H1) để chiếc điện thoại Iphone 11 Pro màu đồng trên kệ gần cửa sổ chỗ Tuyến đang đứng. Lợi dụng lúc bà H1 đi lấy thẻ cào điện thoại, không có ai trông coi nên T đã lén lút lấy chiếc điện thoại của chị N bỏ vào trong túi quần của mình. Do T mua nợ thẻ cào nên bà H1 không bán, T cầm chiếc điện thoại đi về nhà. Sau khi về nhà thì T tháo sim trong điện thoại ra vứt đi rồi đưa điện thoại cho T2 và nói đó là tài sản Tuyến vừa mới trộm cắp được. Mặc dù biết điện thoại do T trộm cắp được nhưng T2 vẫn đồng ý cầm điện thoại đến cửa hàng mua bán điện thoại di động tại xã P, huyện T để phá khoá, phá định vị để người khác không phát hiện. Chủ tiệm điện thoại cho biết chiếc điện thoại này là điện thoại trộm cắp nên lo sợ bị phát hiện, T2 cầm điện thoại đi về nhà của mình tại xã P, huyện T để cất giấu và nói với T do điện thoại bị định vị nên không mang về nhà T được.

Sau khi sự việc xảy ra thì chị Mai Tú N đến Công an xã P trình báo sự việc. Sau đó, Trần Xuân T và Nguyễn Hữu T2 được Công an xã P mời về làm việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định: “01 điện thoại Iphone 11 Pro màu đồng dung lượng 256GB có giá trị: 8.950.000 đồng.”

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, T và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 85/CT-VKSTP-ĐN ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố Trần Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Hữu T2 về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Xuân T mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T2 mức án từ 10 (Mười) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”;
  • - Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối hận, đã nhận thấy hành vi là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

    Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về tội danh:

    Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Kết luận định giá, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc,... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

    Trần Xuân T là đối tượng nghiện ma tuý và có 04 tiền án chưa được xoá án tích. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, tại quán tạp hóa của bà Phan Thị Ngọc H1 tại ấp P, xã P, huyện T, Trần Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu đồng trị giá 8.950.000 đồng của chị Mai Tú N.

    Nguyễn Hữu T2 mặc dù biết điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu đồng là tài sản do T trộm cắp được nhưng vẫn đồng ý mang điện thoại đi phá khóa và định vị sau đó mang điện thoại trên về nhà của mình tại xã P, huyện T để cất giấu.

    Hành vi của Trần Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Hữu T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ:
    • Bị cáo Trần Xuân T: Thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Bị cáo Nguyễn Hữu T2: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra còn xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  5. Bị cáo T có nhân thân xấu.
  6. Căn cứ quyết định hình phạt:

    Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình.

    Bị cáo Trần Xuân T vì muốn có tiền để sử dụng tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo vẫn không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ không ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật kém.

    Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T2 mặc dù mặc dù không hứa hẹn trước với bị cáo T nhưng vẫn đồng ý mang điện thoại đi phá khóa và định vị sau đó mang điện thoại trên về nhà của mình để cất giấu nên đã thực hiện hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, với lỗi cố ý.

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

    Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo T mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

    Đối với bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

  7. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  8. Về biện pháp tư pháp:
    • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro màu đồng, 01 sim điện thoại số 0398.763.xxx Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd’ưnhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Xuân T.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu T2.
  • - Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 đới với bị cáo T2;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Nguyễn Hữu T2 phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T2 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T4) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/7/2024).
  2. Giao bị cáo Nguyễn Hữu T2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN XUÂN TUYẾN CÙNG ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger