Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Thanh Tâm

Ông Lương Văn Nay

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Hoàng V, sinh năm 1981; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2004; có 02 con: Nguyễn Hữu P, sinh năm 2020 và Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
  2. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.
  3. Mai Thị Xuân M, sinh năm 1998 tại Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tiếp viên tự do; Nơi thường trú: khu phố E, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chổ ở: số nhà A, đường H, khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Mai Văn T3, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1978; Bị cáo có chồng: Nguyễn Thái P1, sinh năm 1989 (không đăng ký kết hôn); có 01 con: Mai Ngọc H1, sinh năm 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
  4. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn T3, sinh năm 1970

Nơi cư trú: khu phố E, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn P2, sinh năm 1984

Nơi cư trú: số B, đường N, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

(Các bị cáo có mặt; người liên quan và người chứng kiến vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu TMai Thị Xuân M có mối quan hệ quen biết do là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý đá loại Methamphetamine, dưới hình thức là hút.

Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 24/01/2024, Lực lượng Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai kết hợp cùng Công an phường X kiểm tra nhà nghỉ “Kinh Bắc 3” thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai do Hoàng Văn P2, sinh năm 1984 làm chủ. Tại đây, trước cửa phòng số 16 lực lượng kiểm tra phát hiện trong bàn tay trái của Nguyễn Hữu T đang cầm giữ 01 (một) gói nylon màu vàng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Tiếp tục kiểm tra bên trong phòng số 16 thì phát hiện có Mai Thị Xuân M đang nằm ngủ, tại ghế gỗ trong phòng có 01 (một) bình nỏ thủy tinh, 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, nên tiến hành thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu T, Mai Thị Xuân M.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu TMai Thị Xuân M khai nhận như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 23/01/2024, T đến phòng trọ của Mai Thị Xuân M tại đường H thuộc khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai mượn 01 (một) xe mô tô hiệu Vision, biển số 72E1-83069 của M để đi chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi về và đến khu vực bến xe thành phố L, gặp một người thanh niên tên B (không rõ nhân thân) mua 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) ma túy đá thì được B đưa cho 01 (một) đoạn ống nhựa loại hút nước hàn kín 02 đầu, bên trong chứa ma tuý đá nên T cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô chạy đến phòng trọ của M. Tại đây, T rủ M sử dụng ma tuý nhưng M không đồng ý nên cả hai thống nhất thuê nhà nghỉ để sử dụng ma túy, M sẽ phụ trả tiền thuê phòng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, TM điều khiển xe mô tô biển số 72E1-83069 của M đi thuê nhà nghỉ. Trước khi đi, M lấy 01 (một) bình nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý rồi đưa cho T, sau đó cả hai chạy đến nhà nghỉ “Kinh Bắc 3” tại đường N, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và thuê phòng số 16.

Khi vào phòng nghỉ thì T lấy bình nỏ thuỷ tinh gắn vào chai nước rồi lấy đoạn ống nhựa chứa ma tuý đá ra, đổ một ít ma tuý đá vào nỏ thuỷ tinh và cả hai cùng sử dụng. Đến khoảng 14 giờ ngày 24/01/2024, trong lúc M đang nằm ngủ thì T lấy đoạn ống nhựa chứa ma tuý đá, đổ một ít ma tuý gói vào bịch nylon màu vàng rồi cầm trên tay để đem về nhà sử dụng. Riêng số ma tuý còn lại cùng bộ D nỏ thuỷ tinh, T bỏ lại trên ghế gỗ trong phòng cho M (thời điểm T bỏ lại ma túy cho M thì M không biết). T cầm bịch ma tuý đá và dẫn xe mô tô ra về, khi ra đến trước cửa phòng số 16 thì T bị lực lượng Công an thành phố L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên tay trái của T có 01 (một) gói nylon màu vàng hàn kín, bên trong chứa ma tuý đá (ký hiệu M1). Công an thành phố L tiếp tục kiểm tra trong phòng nghỉ số 16, lúc này trong phòng có M và thu giữ trên ghế gỗ 01(một) đoạn ống nhựa loại hút nước màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy đá (ký hiệu M2), 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bên trong còn dính chất ma túy (ký hiệu M3) nên tạm giữ để điều tra xử lý.

* Tại Bản kết luận giám định số 221/KL-KTHS ngày 31/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1710 gam loại Methamphetamine.
  • Mẫu tinh thể màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,6669 gam loại Methamphetamine.
  • Mẫu tinh thể màu vàng bám dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

* Vật chứng của vụ án:

  • 01(một) gói niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ số 221/KL-KTHS niêm phong ngày 31/01/2024, còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1344 gam Methamphetamine; M2: 0,6337 gam loại Methamphetamine của Nguyễn Hữu T. Riêng M1 đã sử dụng hết trong công tác giám định.
  • 01 (một) bình nỏ thủy tinh sử dụng ma túy đá là của Mai Thị Xuân M.
  • 01 (một) điện thoại Oppo màu tím của Nguyễn Hữu T, 01 (một) điện thoại Vivo màu trắng xanh của Mai Thị Xuân M.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh đen, biển số 72E1- 83069 là tài sản hợp pháp của Mai Văn T3, sinh năm 1970 (cha ruột của Mai Thị Xuân M) ngụ khu phố E, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vùng Tàu. Khi ông T3 cho M mượn để đi lại thì ông T3 không biết M dùng làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L trả lại cho ông T3.

Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKSLK ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Mai Thị Xuân M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận
  • Người liên quan, người chứng kiến vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015: tổng hợp hình phạt của Nguyễn Hữu T theo quy định.

+ Đối với bị cáo Mai Thị Xuân M:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 221/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ; 01 bình nỏ thủy tinh của Mai Thị Xuân M và sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại hiệu OPPO màu tím của Nguyễn Hữu T, 01 điện thoại Vivo màu trắng xanh của Mai Thị Xuân M.

  • Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam các bị cáo nhận ra sai lầm của mình, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 23 giờ ngày 23/01/2024, tại phòng số 16 nhà nghỉ “Kinh Bắc 3” thuộc khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Hữu T cùng Mai Thị Xuân M tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đá. Đến khoảng 14 giờ 50 phút ngày hôm sau, khi T đang dẫn xe mô tô từ trong nhà nghỉ ra thì bị lực lượng Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép với tổng khối lượng là 0,8379 gam ma túy loại Methamphetamine.

Riêng hành vi của T đã lấy một ít ma túy để đem về nhà sử dụng thì bị bắt quả tang đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Số ma túy còn lại bị cáo T để lại trong phòng ngủ thì bị cáo M không biết. Do đó, Mai Thị Xuân M không đồng phạm với Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, hơn nữa ma túy còn là tác nhân, tiền đề cho những loại tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hàng vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ....nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố ý tổ chức sử dụng và bị cáo T có hành vi tàng trữ để tiếp tục sử dụng ma túy. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi của các bị cáo gây, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tính chất đồng phạm và các căn cứ đề quyết định hình phạt:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Hữu T là người giữ vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo rủ rê, chuẩn bị ma túy, thuê phòng rủ bị cáo Mai Thị Xuân M sử dụng ma túy, còn Mai Thị Xuân M là người chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đồng thời cùng Thông đồng ý thuê địa điểm. Nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo M.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về đối tượng có liên quan trong vụ án: Đối với đối tượng tên là B đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[9] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 221/KL-KTGĐ của Phòng K, Công an tỉnh Đ và 01 bình nỏ thủy tinh sử dụng ma túy và tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại hiệu OPPO màu tím của Nguyễn Hữu T và 01 điện thoại Vivo màu trắng xanh của Mai Thị Xuân M.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Mai Thị Xuân M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ".

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 38; Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung là 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tính từ ngày 24/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu T để đảm bảo thi hành án.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 38; Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Xuân M 02 (Hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 24/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Mai Thị Xuân M để đảm bảo thi hành án.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 221/KL-KTGĐ ngày 31/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Đ và 01 bình nỏ thủy tinh sử dụng ma túy và tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu OPPO màu tím của Nguyễn Hữu T, 01 điện thoại Vivo màu trắng xanh của Mai Thị Xuân M (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo Nguyễn Hữu T, Mai Thị Xuân M phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Huu T va dp to chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger