|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Khôi và ông Huỳnh Văn Vy.
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Văn Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 244/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị đơn: Anh Võ Đại M, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01 tháng 11 năm 2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày như sau:
Chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Võ Đại M tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cải vả khiến cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ năm 2020 cho đến nay, chị N và anh M sống ly thân, không quan tâm đến nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay chị N không còn tình cảm, không thể trở về chung sống với anh M nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Đại M.
Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N và anh M có 01 người con chung là Võ Đại V, sinh ngày 29/9/2019, hiện đang ở với chị N. Chị N yêu cầu Tòa án giao cháu V cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản trình bày ý kiến và biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2024, anh Võ Đại M khai như sau: Anh và chị N tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã L như chị N trình bày, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh M đồng ý vì hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm gì với nhau. Về con chung: Anh M đồng ý giao cháu Võ Đại V, sinh ngày 29/9/2019 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh M không cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa ngày 08/5/2024 và ngày 17/5/2024, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bị đơn vắng mặt lầm thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Võ Đại M tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa chị N và anh M, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình sống chung, giữa hai người không tôn trọng nhau, thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Từ năm 2020 chị N và anh M đã sống ly thân cho đến nay. Anh M cũng đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ N.
[2.2] Về việc nuôi con: Chị N yêu cầu giao cháu V cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh M cũng đồng ý nên việc giao cháu V cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho nguyên đơn rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N, chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn anh Võ Đại M.
-
Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 01 người con chung là Võ Đại V, sinh ngày 29/9/2019 cho chị Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Võ Đại M không cấp dưỡng nuôi con chung
Anh Võ Đại M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0002040 ngày 01/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Thảo |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn tranh chấp nuôi con
