TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 89/2023/QĐST-HNGĐ | Hải Dương, ngày 16 tháng 11 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Chất.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 443/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2023 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 407/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Phạm Thị C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số A, ngõ E M, quận N, thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1989; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Số B đường Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.
Người được chị C, anh H ủy quyền về việc giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Số B đường Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
(Chị C, anh H, bà T đều vắng mặt, có đơn và quan điểm xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Phạm Thị C, anh Nguyễn Quang H cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Quang H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/02/2017. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Khoảng tháng 6/2018, anh H đi lao động tại Nhật Bản. Thời gian đầu, anh chị vẫn thường xuyên liên lạc và chia sẻ với nhau về cuộc sống, công việc. Nhưng sau đó do bất đồng quan điểm sống, mỗi lần nói chuyện vợ chồng lại cãi nhau nên từ đó anh chị không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau nữa. Cuối năm 2022, anh H về Việt Nam chơi. Sau đó, gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải cho hai anh chị nhưng không có kết quả. Tháng 01/2023, anh H đã quay trở lại Nhật Bản làm việc. Nay chị C và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cùng thống nhất đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị C và anh H không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai, bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Quang H. Bà được anh H, chị C ủy quyền về việc giao, nhận các văn bản của Tòa án. Sau khi nhận, bà đã thông tin lại cho hai anh chị biết. Đến nay, quan điểm của anh chị vẫn giữ nguyên như trong đơn xin ly hôn và bản tự khai đã nộp cho Tòa án.
Tại phiên họp, chị C, anh H, bà T vắng mặt và đều có đơn, quan điểm đề nghị vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Quang H. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị C tự nguyện chịu cả 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Chị Phạm Thị C hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Anh Nguyễn Quang H hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Anh H và chị C cùng thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn cho anh chị. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các văn bản anh H gửi về gồm Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt đều có xác nhận của T1 tại O, Nhật Bản; các văn bản chị C gửi về gồm Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt đều được Văn phòng C1, thành phố Hà Nội chứng thực chữ ký nên được xác định là hợp pháp. Quá trình giải quyết, các đương sự đều có đơn và quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Quang H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/02/2017 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị C và anh H mỗi người sống một nơi. Anh H ở Nhật Bản, còn chị C sống tại Hà Nội. Thời gian đầu anh chị vẫn thường xuyên liên lạc với nhau nhưng sau đó do mỗi lần nói chuyện vợ chồng lại cãi nhau nên từ đó anh chị không còn liên lạc với nhau nữa. Mặc dù đã được gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng mâu thuẫn của hai anh chị vẫn không cải thiện được. Nay chị C và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cùng thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn của anh chị. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của hai anh chị là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị C và anh H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh H đều không đề nghị giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét, giải quyết.
[3] Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị C tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Quang H.
- Về lệ phí: Chị Phạm Thị C tự nguyện chịu cả 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0001210 ngày 12/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị C đã nộp đủ.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Chất |
Bản án số 89/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số bản án: 89/2023/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Quang H và chị Phạm Thị C yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
